Những giá trị kinh điển của Hiến pháp 1946 vẫn là thách thức cần vươn tới



Những giá trị kinh điển của Hiến pháp 1946 vẫn là thách thức cần vươn tới

Mạnh Kiên 16:13 18/1/2013

Dưới góc nhìn của lịch sử, nhà nghiên cứu Dương Trung Quốc đã có một bài viết cẩn trọng và khéo léo đánh giá một số điểm “chuẩn mực”, “kinh điển” của bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946.

Bài báo “Nghĩ về lúc Hiến pháp đang sửa đổi” của nhà nghiên cứu Dương Trung Quốc đăng trên báo Lao Động ngày 16/1 đã cho độc giả thêm hoàn cảnh lịch sử về bản Hiến pháp Việt Nam năm 1946. Theo bài báo,  văn kiện kế thừa được tinh thần của bản Tuyên ngôn Độc lập được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình Lịch sử ngày 2/9/1945, cũng tương tự như Hiến pháp Hoa Kỳ bắt nguồn từ những tư tưởng của bản “Tuyên ngôn Độc lập” năm 1776 hay Hiến pháp của nền Cộng hoà Pháp bắt nguồn từ những nguyên lý của bản “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” gắn với cuộc cách mạng lật đổ chế độ quân chủ 1789.  
 
Tác giả Dương Trung Quốc gợi mở về điều đáng suy ngẫm là cho dù Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng trải ở nước Nga Xôviết, rồi Công xã Quảng Châu, học tập nhiều lý luận về chủ nghĩa cộng sản nhưng khi giành được chính quyền trong tay thì không lựa chọn mô hình Xôviết mà lại dẫn những tư tưởng cơ bản nhất của 2 bản tuyên ngôn của hai quốc gia Mỹ và Pháp trong bản Tuyên ngôn Độc lập của mình.
 
Nhìn lại thời điểm tiến hành bầu cử Quốc hội và dự thảo bản Hiến pháp đầu tiên, Việt Nam lúc đó không có chế độ “một đảng lãnh đạo”, thậm chí Đảng Cộng sản Đông Dương còn tuyên bố “tự giải tán”, đại diện công khai tham gia Quốc hội và soạn thảo Hiến pháp chỉ còn có “Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác”. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chủ động tạo ra hình thái “đa nguyên, đa đảng” với việc chấp nhận “mời” 70 thành viên của các đảng phái chính trị mà trước đó đã từng “tẩy chay” tham gia tổng tuyển cử vào làm đại biểu Quốc hội. Cách lựa chọn đúng đắn này đã tạo nên sự đồng thuận rất nhanh chóng và mạnh mẽ trong nhân dân sau khi đã giành được chính quyền.
 
Không chỉ vậy, những giá trị bền vững tạo lập nên Hiến pháp năm 1946 còn được thể hiện ở một quốc hội “được bầu theo phương thức được coi là dân chủ” và “phổ thông đầu phiếu có sự bình đẳng tuyệt đối giữa nam và nữ”, bình đẳng “giữa các tôn giáo, sắc tộc và tầng lớp xã hội”. Một quốc hội được triệu tập theo đúng những thông lệ quốc tế: Người chủ trì phiên đầu là vị đại biểu cao niên nhất là tín đồ đạo Thiên chúa- cụ Ngô Tử Hạ, người dân có thể vào quan sát phiên họp tại khu vực tầng cao nhất của Nhà hát Lớn Hà Nội. Một ủy ban soạn thảo Hiến pháp được cử ra gồm toàn những trí thức tây trong đó có các nhà luật học...
 
Bản Hiến pháp được thông qua bằng 240 phiếu thuận, trong đó có sự bất đồng chủ yếu trong lựa chọn mô hình một viện hay hai viện. Hai phiếu phản đối thuộc về ông Phạm Gia Đỗ coi “chế độ một viện là độc tài của đa số”, đề nghị bãi bỏ kiểm duyệt, tự do xuất bản; phiếu còn lại là của doanh nhân Nguyễn Sơn Hà người cho rằng Hiến pháp không bảo vệ quyền lợi của tư bản trong nước so với tư bản ngoại quốc.
 
Tuy vậy, văn kiện quan trọng này mới được thông qua ở kỳ họp thứ hai của Quốc hội khoá I (9/11/1946) mà chưa được ban hành. Các hiến pháp 1959, 1992 thì mỗi văn bản phát huy được chừng hai thập kỷ. Hiến pháp 1980 (được coi là một bước lùi khi đã có khuynh hướng Xôviết hoá) cũng chỉ duy trì được 12 năm khiến hệ quả của nó chính là bản Hiến pháp 1992 mà đến nay vẫn tiếp tục phải sửa đổi.
 
Bài viết của tác giả Dương Trung Quốc đã cung cấp cho người đọc một thoáng nhìn lịch sử về bản Hiến pháp được Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn với mô hình thể chế dân chủ - công hòa và những hệ quả từ việc xê dịch ra khỏi quỹ đạo vẫn được coi là tiên tiến trên thế giới. Có lẽ bởi vậy, các tiêu chí “Dân tộc, độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc” vẫn là những thách thức lâu dài để vươn tới.
 
 

Mạnh Kiên

Từ Khóa :