Giải thưởng OSCAR cho phim Việt - ước mơ lớn, hoang tưởng lớn hơn



Giải thưởng OSCAR cho phim Việt - ước mơ lớn, hoang tưởng lớn hơn

Kính cận 18:30 31/8/2013

Có người gọi điện đến Hội điện ảnh: Alô, tôi muốn làm chủ tịch Hội… Xin lỗi, anh có bị điên không? Thế ngoài điều kiện đó ra có còn cần điều kiện gì nữa không? Truyện vui hiện đại

OSCAR là giải thưởng danh giá nhất trong hệ thống giải thưởng điện ảnh của thế giới. Các phim đoạt giải nói chung là những kiệt tác nghệ thuật, trong đó có cả những bộ phim không phải do người Mỹ sản xuất. Từ trước đến nay, trong hệ thống các nước XHCN trước kia, Mát-xcơ-va Không Tin Vào Những Giọt Nước Mắt của Liên Xô là một trong những bộ phim hiếm hoi được nhận giải thưởng này. Nhưng kết cục của nó cũng không mấy vui: vì những lý do nào đó mà đạo diễn bộ phim đã không đến nhận giải mà một nhân viên KGB, tuỳ viên đại sứ quán, đã đến nhận giải thưởng thay cho tác giả đang ngồi câu cá lẻ loi trên bờ con sông nhỏ ở ngoại ô Mát-xcơ-va hoang vắng.
 
 
Vậy mà Liên Xô ngày ấy có nền điện ảnh không tồi với những bộ phim từng lừng danh một thời như:  Đàn Sếu Bay Qua, Người Thứ 41, Số Phận Một Con Người… cùng những đạo diễn giỏi giang tầm cỡ thế giới như: Iuri Bonđarev, Suksin... Cơ sở vật chất của nền điện ảnh này đa dạng, hùng hậu với những Matxfilm, Lenfim… trong khi số tiền đầu tư cho điện ảnh của cường quốc thứ hai thế giới thời đó có thể nói là khổng lồ và nhất là không cần tính nhiều lắm đến hiệu quả kinh tế. Phần lớn đạo diễn đã thành danh ở nước ta từng theo học tại đây. Vì thế, phim Việt cũng phảng phất hương vị phim Xô viết.
 
Còn ở Việt Nam, mãi 10 năm trước, đạo diễn Đỗ Minh Tuấn - nhân vật thuộc loại cộm cán nhất trong thế hệ của mình - mới gửi bộ phim Vua Bãi Rác qua Mỹ tham dự giải OSCAR ở hạng mục phim nước ngoài xuất sắc. Tên phim ngay từ đầu đã vang vọng như một cái gì đó không hay, ít nghiêm túc, nhất là không mấy sang trọng… để rất không nên là sự bắt đầu. Có phải vì thế không mà những phim gửi đi sau đó như Mùa Len Trâu, Áo Lụa Hà Đông, Khát Vọng Thăng Long, Đừng Đốt, Mùi Cỏ Cháy đều không thể vượt qua vòng loại để đến với giới điện ảnh thế giới... để rồi rất có nguy cơ, nếu không cẩn thận, sẽ trở thành một loại rác trong bãi rác mênh mông của điện ảnh thế giới.
 
 
Nay thì Dự thảo chiến lược phát triển điện ảnh Việt Nam đến năm 2020 đã đặt ra mục tiêu có phim đoạt giải Oscar sau khoảng 20 năm nữa  Một mục tiêu lớn thể hiện mơ ước lớn của những người quản lý điện ảnh nước nhà. Đây là mục tiêu đáng khen vì khác với phần lớn các chiến lược thường có mục tiêu vu vơ đang đầy rẫy ở nước ta. Bởi mục tiêu này rất cụ thể, định ra cái đích để các nhà điện ảnh Việt hướng đến.
 
Tuy nhiên, việc này cũng quá khó để thực hiện, ít nhất vì mấy lý do mà bất cứ sinh viên điện ảnh nào mới rời ghế nhà trường cũng biết. Để bạn đọc có thể thị phạm dễ hơn, xin được đưa kèm ví dụ về bộ phim Thái Sư Trần Thủ Độ của đạo diễn Đào Duy Phúc đang nổi tiếng trong tháng 8 này không phải vì phim hay, mà vì được tặng cho VTV và bất cứ đài truyền hình nào, chiếu miễn phí nhưng giờ đây chưa biết ngày nào sẽ lên sóng và ai sẽ chiếu. Vậy mà, đây là bộ phim được đặt hàng làm nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, dài 33 tập, kịch bản do nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn “vang bóng một thời” gửi từ TP.HCM ra Hà nội ứng thí với số tiền đầu tư 56 tỷ đồng, từng nhận 3 Cánh Diều Vàng... Phim làm xong và chẳng có một ai lên tiếng về nó, cứ như thể bộ phim là thứ phẩm của điện ảnh nước nhà.
 
Vậy phim hay cần gì để được giải OSCAR?
 
Đầu tiên là ý tưởng của bộ phim. Tiếp đó là kịch bản. Ý tưởng thì vốn nhiều và đủ loại. Đó có thể là câu chuyện phiêu lưu nghẹt thở của nước Mỹ tại Iran như Argo hay có thể là câu chuyện rất bình thường và đời thường như Bí Mật Trái Tim khi mà người chồng, trụ cột gia đình, không may bị một kẻ say rượu bắn chết cùng những gì người vợ phải bươn chải. Cũng có thể là câu chuyện hoàng gia nước Anh trong The King's Speech với một ông vua mắc tật nói lắp đã vượt lên tật nguyền để lãnh đạo quốc gia vượt qua Chiến tranh Thế giới lần thứ 2 khốc liệt... Những giải thưởng quốc tế thường dành cho những bộ phim mang thông điệp có tính toàn cầu, cho dù câu chuyện có diễn ra ở nơi đâu trên trái đất rộng lớn này. Những thông điệp đó có nhiều, nhưng cốt lõi vẫn là những giá trị nhân bản mà loài người thừa nhận hoặc có thể chấp nhận. Rồi thì ý tưởng đó được chuyển ngữ sang ngôn ngữ điện ảnh bằng kịch bản được viết chuyên nghiệp, sáng tạo bởi đội ngũ những con người được tổ chức làm việc một cách sáng tạo và chuyên nghiệp.
 
Sự khó khăn bắt đầu từ đây. Từ nhỏ, học sinh chúng ta đã được rèn giũa bằng những bài văn mẫu. Vậy là những ý tưởng sáng tạo, cái vốn rất hiếm ở bất cứ nơi nào trên thế giới, lại càng hiếm hơn ở nước ta khi các ý tưởng đã bị gò theo một số khuôn mẫu không biết được tạo dựng từ bao giờ. Cho nên, các câu chuyện trong phim Việt cứ khô khan và… không thật thế nào ấy, kiểu như đã là tình yêu nam nữ thì phải trong sáng, không tình dục ngoài luồng hay cái thiện bao giờ cũng phải thắng cái ác...
 
 
Và sự kiểm duyệt cũng thật khắt khe: phim Bụi đời Chợ Lớn không thể ra rạp vì bị cho là quá bạo lực và không rõ xảy ra ở chế độ xưa hay nay ( ?!), còn Bi, đừng sợ khi chiếu ở Việt Nam đã bị cắt đi các cảnh được cho là không có lợi cho người xem, dù phim ghi rõ là dành cho người trên 18 tuổi (!). Còn Thái Sư Trần thủ Độ thì yên tâm đi vì “Đây là bộ phim do Hà Nội đặt Hãng phim truyện làm để kỷ niệm 1000 năm Thăng Long. Nên về nội dung chắc không có vấn đề gì” như lời ông Nguyễn Hải Nam - Trưởng ban Thư ký biên tập, đại diện của VTV - nhận xét về bộ phim này... Cứ thế, không qua được kiểm duyệt thì phim không được làm, không được chiếu, không được đi dự giải OSCAR. Còn qua được kiểm duyệt thì giám khảo OSCAR không hiểu được mà người xem nước nhà cũng… không hiểu được nên họ cũng chẳng buồn đến rạp.
 
Tiếp đó là chuyện làm phim: cần có đạo diễn, diễn viên và nhà sản xuất phim, một người mà đôi khi bị gán một cách sai lầm cho chức danh chủ nhiệm phim, đúng chuẩn. Điều cần nhất hiện nay là làm sao để những người này được đào tạo bài bản lại từ đầu, tốt nhất là tại Mỹ và một số nước có nền điện ảnh tiên tiến. Nếu không, những gì học được qua kinh nghiệm, qua nhà trường Liên Xô và đang được truyền tải lại một cách phiến diện, chắp vá tại các khoá đào tạo điện ảnh sẽ cung cấp những con người làm phim một cách chắp vá, không mấy chuyên nghiệp. Và nhà sản xuất phim phải là trung tâm điều hành mọi chuyện trong việc làm ra một bộ phim, như việc này được thực hiện trên thế giới, chứ không phải đạo diễn là kẻ trung tâm như hiện nay ở nước ta.
 
Vậy là khó khăn càng tiếp tục cho điện ảnh nước nhà: nào đã có ai trong số các nhà quản lý điện ảnh được đào tạo bài bản ở Mỹ bao giờ đâu, hơn nữa cũng chưa ai có cơ hội làm phim thật sự ở Mỹ để mà thiết kế lại chương trình đào tạo cho tương lai điện ảnh nước nhà. Trong khi các vị quản lý nước nhà phần lớn là những người xuất thân từ những giai tầng xã hội chẳng có mấy ý niệm về nghệ thuật điện ảnh thì làm sao biết được để khởi đầu cho một bộ phim cũng là cả một chuỗi những tháng ngày gian khổ. Không những thế, mấy vị đạo diễn già chắc gì đã muốn nhường vai trò trung tâm của mình cho nhà sản xuất phim khi mà ở cơ chế bao cấp quan liêu, cái đang hiện diện ở nền điện ảnh nước nhà, chẳng có sức ép nào buộc họ phải làm thế.
 
Và cuối cùng là vấn đề đầu tiên - tiền đâu làm phim. Đây là câu chuyện thuần tuý thị trường bắt đầu từ khoản tiền đầu tư làm phim và kết thúc ở việc người dân móc tiền túi mua vé xem phim. Nhưng chuyện này hình như vẫn bị coi khinh nhất trong phim nhà nước. Cứ nhìn bộ phim Thái Sư Trần Thủ Độ thì rõ: khi làm phim với khoản tiền lớn như thế mà kịch bản được lựa chọn rất trời ơi, đạo diễn ít danh và diễn viên không chuyên. Hơn thế, người đầu tư cũng chẳng cần biết phim sẽ chiếu ở đâu, có đem lại cảm giác thích thú cho khán giả hay không? Còn phim tư nhân thì việc tính toán có chi ly hơn, hợp lý hơn, nhưng sức ép kinh tài không cho phép họ mạo hiểm: kịch bản phải hợp đường lối, đạo diễn phải có danh và diễn viên phải có tiếng từ trước…
 
 
Kết quả của cách đầu tư này là cả hai dòng phim nhà nước và tư nhân sẽ chẳng mấy khi có chủ đề mới mẻ, tầm cỡ được chạm đến, chẳng có cơ nào cho đạo diễn trẻ, tài năng thi thố tay nghề và cũng chẳng lấy đâu những diễn viên mới mẻ để cuốn hút khán giả, những kẻ mà theo thói đời thường cả thèm và chóng chán. Tức là ít có cơ hội để bộ phim có tính mới đủ để có thông điệp được OSCAR chấp nhận trong khi phần nhiều sẽ là những bộ phim nhà nước cúng cụ, dùng trong dịp lễ tết hay là những bộ phim tư nhân, đáp ứng thị hiếu đời thường của người xem để thu tiền cho nhanh hoà vốn và có lãi.
 
Cho nên, với thực tại như thế và sẽ còn như thế trong khoảng thời gian không dưới 10 năm nữa, thì thời gian còn lại trong giới hạn 20 năm mà Dự thảo chiến lược đề ra quả không đủ để làm bất cứ điều gì nhằm khắc chế ba khiếm khuyết kể trên của điện ảnh nước nhà. Tệ hơn, hình như cũng chẳng mấy ai trong các vị lãnh đạo có trách nhiệm với nền điện ảnh nước nhà dám nhìn thẳng vào thực tại đó để có chính sách phù hợp cho những bước đi cần thiết, xây dựng nền điện ảnh mới tương thích với điện ảnh thế giới...
 
Giải OSCAR không phải là giải Cánh diều. Không hoang tưởng được. Phải tương thích hẵng, rồi mới có thể mơ đến OSCAR!
 

Kính cận

Từ Khóa :