‘Bức tranh kinh tế Việt Nam rất lổm nhổm’



‘Bức tranh kinh tế Việt Nam rất lổm nhổm’

Vân Du 21:35 24/9/2013

Nhận định về số liệu thống kê của Việt Nam, nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan đã thẳng thắn bày tỏ sự hoài nghi: “Những con số thống kê của Việt Nam cứ thế nào ấy. Tôi không dám tin”. Chính sự mập mờ này đã tạo nên một bức tranh kinh tế vĩ mô rất lổm nhổm và khó đi vào cuộc sống.

Phát biểu tại buổi Hội thảo Khoa học “Nhìn lại nửa chặng đường phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011 - 2015 và những điều chỉnh chiến lược” được tổ chức ngày 23/9, ông Vũ Khoan cho rằng những con số thống kê của Việt Nam theo kiểu “nay thế này mai thế kia” thì sao đủ sức thuyết phục. Đơn cử như chỉ riêng vấn đề nợ xấu, mỗi cơ quan lại đưa ra một con số riêng, không trùng khớp nhau, tỷ lệ nợ xấu do các ngân hàng công bố lại chênh rất nhiều so với con số thanh tra của Ngân hàng Nhà nước. Hoặc như giá trị tồn kho trong lĩnh vực BĐS cũng không thống nhất: theo báo cáo cuối năm 2012 của Bộ Xây dựng thì toàn bộ thị trường còn tồn kho khoảng 16.000 căn hộ chung cư, nhưng theo điều tra của Dragon Capital, con số này phải lên tới 70.000. Hay về chỉ tiêu việc làm, số liệu của ngành thống kê 1.347.000 người có việc làm mới, còn ngành lao động trên 1.500.000 người.
 
Trong khi đó, số liệu và thống kê đáng tin cậy là “bằng chứng bằng số” rất quan trọng để xây dựng, giám sát và đánh giá thực hiện chiến lược, chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Báo cáo sai thì hoạch định chính sách cũng sai. Vậy nhưng, chỉ cần lấy lý do “cách tính khác nhau”, những con số này vẫn được tồn tại trong bộ số liệu chính thức, để rồi khi ra chính sách sẽ dựa trên con số nào thì chẳng ai hay.
 
Thực tế cho thấy, trong khi phần lớn các nước trong khu vực đã lấy được đà tăng trưởng sau khủng hoảng thì Việt Nam lại đối diện với tình trạng tốc độ tăng trưởng suy giảm liên tục nhưng lạm phát vẫn tăng cao. Cụ thể, tốc độ tăng trưởng Việt Nam giai đoạn 2011 - 2012 tương đương với Philipines, thấp hơn Indonesia và Malaysia và cao hơn Singapore và Thái Lan. Tuy nhiên, dù GDP tính theo ngang giá sức mua được xếp thứ 42 thế giới, đứng thứ 6 trong khu vực, sau Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Philippines và Singapore, song GDP bình quân đầu người theo năm 2012 của Việt Nam lại chỉ xếp thứ 137/182 nước theo số liệu của IMF, nằm giữa một loạt các nước châu Phi, trong khu vực chỉ hơn Lào (141) và Campuchia (154). Mỗi năm tạo việc làm mới cho hơn 1 triệu người, song 50% trong độ tuổi 15-34 đang thất nghiệp. Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore. Sau 25 năm đổi mới, Việt Nam mới bắt đầu… thoát nghèo để được liệt vào nhóm nước có thu nhập trung bình, theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới.
 
Không những vậy, đà suy giảm của tốc độ tăng trưởng Việt Nam bắt đầu nhanh và liên tục từ cuối năm 2007 và đến giai đoạn cuối năm 2012 nằm ở mức thấp nhất trong vòng hơn một thập niên qua. Ngược lại, tăng trưởng các nước ASEAN - 5 đều khởi sắc hơn kể từ cuối 2009, Philippines và Myanmar đang dần trở thành những ngôi sao mới nổi trong khu vực, thu hút sự chút ý lớn của nhà đầu tư, trong khi doanh nghiệp FDI Việt Nam lại tìm cách… bỏ của chạy lấy người. Như vậy, rõ ràng, sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008, trong khi các nền kinh tế trong khu vực đều dần vực dậy thì kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục “xuống dốc”.
 
Đồng quan điểm với nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, TS. Cao Sỹ Kiêm cũng cho rằng việc điều hành của Chính phủ thực sự gặp “vấn đề” khi càng vào thời điểm khó khăn càng không kiểm soát được tình hình, khiến nền kinh tế rơi vào khó khăn sâu hơn. Không chỉ vậy, TS. Cao Sỹ Kiêm còn chỉ ra rằng cách giải quyết của Chính phủ vẫn theo tư duy cũ, thậm chí có lúc quay về thời kỳ bao cấp với các mệnh lệnh hành chính đưa ra. Ngay cả nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển, TS. Lưu Bích Hồ cũng phàn nàn: “Chính phủ nói nhiều nhưng không làm được”.
 
Trước hàng loạt những băn khoăn, hoài nghi được các vị chuyên gia kinh tế nêu ra, đại diện của Chính phủ, TS. Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, viện lý do Việt Nam đang trong “thời kỳ nhạy cảm” với những chuyển động chính trị của thời điểm sơ kết nhiệm kỳ. Vì vậy, không nên quá vội vã cho ưu tiên phục hồi mà nên tập trung vào ổn định kinh tế vĩ mô và dồn sức cho tăng trưởng – hai yếu tố không thể nào trở thành “trọng điểm” trong cùng một lúc. Ngay như một nước có nền kinh tế tăng trưởng nóng như Trung Quốc với nhiều yếu tố bất ổn tiềm ẩn cũng đã bắt đầu phải thừa nhận một thực tế: chấp nhận đà tăng trưởng kinh tế chậm lại, phục vụ cho mục đích tái cơ cấu kinh tế theo hướng tập trung vào tiêu dùng trong nước.
 
Ông Vũ Khoan khẳng định không nên đổ lỗi cho khủng hoảng mà nên đi sâu vào phân tích những sai lầm chủ quan. “Tôi không tin khủng hoảng kinh tế thế giới ảnh hưởng khiến nền kinh tế của chúng ta khó khăn, khi mà những lĩnh vực liên quan đến thế giới như xuất khẩu, đầu tư nước ngoài... đều là những điểm sáng của nền kinh tế chúng ta. Sao lại cứ đổ tội cho tình hình khách quan”, ông Vũ Khoan nói, đồng thời khẳng định nguyên nhân chủ yếu là do “đã để vỡ ổn định kinh tế vĩ mô từ năm 2007 đến nay” (theo VnEconomy).
 
Để rồi, như ông Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, nhận định: Việt Nam có 4 “động cơ” tăng trưởng là khu vực kinh tế nhà nước, khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước, nông nghiệp hộ gia đình - cá thể và khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), song chỉ một đang hoạt động. Chỉ với 1.309 doanh nghiệp, khối doanh nghiệp nhà nước lại được nhận được đến 40% tổng vốn kinh doanh, 30% tổng vốn tín dụng, 45% tổng giá trị tài sản của của khu vực doanh nghiệp nhưng chỉ đóng góp 30% GDP. Nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ than phiền họ phải vay chênh với lãi suất quy định đến 3-4%, thậm chí vênh tới 6-7%.
 
Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, TS. Trần Đình Thiên nói: “Tôi có nói thẳng với các vị lãnh đạo cao cấp là tái cơ cấu tầm chiến lược vẫn chưa diễn ra”.
Ông Vương Đình Huệ - Trưởng Ban Kinh tế Trung ương - chỉ ra rằng không ít vấn đề lớn và yếu kém của nền kinh tế đã tồn tại trong nhiều năm qua, khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới chỉ là tạo điều kiện để bộc lộ ngày càng rõ các tồn tại đó. Nhưng lộ thiên là một chuyện, còn việc có điều cái máy nào đến xúc đi hay không lại là chuyện khác.  
 
 

Vân Du

Từ Khóa :