Skip to main content

Nỗi khổ mang tên “Đa cấp”

Nỗi khổ mang tên “Đa cấp”

Mô hình bán hàng đa cấp không còn xa lạ với người Việt Nam. Tuy nhiên, trong khi ở trên thế giới, nó được coi như một trong rất nhiều phương thức kinh doanh thì tại Việt Nam, kinh doanh đa cấp được đánh đồng với gian lận và lừa đảo khi những nỗ lực bán hàng cá nhân không dựa trên tri thức và lương tâm mà chỉ hướng đến một mục đích duy nhất: làm giàu nhanh chóng.

‘Ảo mộng và vỡ mộng’
 
Bằng việc vẽ ra bức tranh toàn màu hồng “kiếm tiền cực dễ” với mức lương khủng lên tới hàng chục triệu đồng một tháng, các công ty bán hàng đa cấp đã thu hút được vô vàn nhân viên làm lợi cho mình. Tuy nhiên, sau một thời gian háo hức quyết tâm làm giàu, nhiều người mới té ngửa, mình còn mất nhiều hơn từ khi tham gia “kinh doanh đa cấp”.
 
Giữa trưa hè nắng gắt, đang nhìn quanh xem có quán trà đá nào ngồi tạm tránh nắng, tôi bỗng giật mình nghe tiếng gọi từ đằng sau “Chị lại đây ngồi uống nước cho mát”. Quay lại nhìn, tôi càng ngạc nhiên hơn khi đó là đứa em họ của tôi, mới 22 tuổi, và giờ là chủ của một quá trà đá với vài cái ghế đặt bên vỉa hè. Với làn da ngăm đen, mái tóc xoăn điểm thêm vài sợi bạc, chẳng ai nghĩ Hùng mới chỉ hơn 20 tuổi. Ngồi nói chuyện với tôi, Hùng xoay xoay cốc trà đá trên tay, ánh mắt xa xăm, thỉnh thoảng thở dài như một người từng trải. Nhìn em tôi không khỏi chạnh lòng khi nghĩ về tương lai phía trước của em mỗi khi nghe hai từ “giá như”...
 
Với thành tích xuất sắc, đạt 29 điểm trong kỳ thi đại học, Hùng từng là niềm tự hào của gia đình khi là á khoa của trường ĐHKTQD nổi tiếng ở Hà Nội. Thế nhưng niềm vui ấy kéo dài chưa được bao lâu thì bố mẹ Hùng lại phải chạy đôn chạy đáo lên Hà Nội đăng ký cho con học lại cho kịp tiến độ vì Hùng bỏ học và bỏ thi quá nhiều môn. Tìm hiểu nguyên nhân gia đình mới biết từ khi Hùng tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp cho hãng mỹ phẩm ORF, chẳng hiểu Hùng bị bỏ “bùa mê thuốc lú” gì mà chỉ đúng 3 tháng sau khi trở thành thành viên chính thức của công ty ORF, Hùng quyết định theo gương các tỷ phú trên thế giới như Bill Gate bỏ học làm giàu. Và thế là chuyện học hành của Hùng cũng dần đứt gánh giữa đường từ đó. Sau khi nghe những triết lý của “tuyến trên”, cậu chẳng còn hứng thú với chuyện học hành mà thay vào đó là mải mê chạy theo những chỉ tiêu về doanh số và phát triển “mạng lưới” mà công ty đặt ra.
 
Với mục tiêu đạt được chức danh “Golden Manager” trong vòng 1 năm (tức là mức doanh thu kèm theo thu nhập có thể lên tới 30 triệu đồng/tháng), Hùng không ngại bỏ học, bỏ thi để nghiên cứu cách thu hút thêm thành viên. Và đối tượng chính mà Hùng tập trung hướng tới là những sinh viên năm nhất chân ướt chân ráo lên Hà Nội nhập học vì theo cậu những đối tượng này còn nhiều bỡ ngỡ, hay nói cách khác là “gà” nên rất dễ bị thuyết phục. Thậm chí, để tăng độ thuyết phục hơn, Hùng còn tổ chức các buổi du lịch hoành tráng cho những thành viên trong nhóm của mình nhưng với lý do là chính sách của công ty. Tuy nhiên, thực tế, để có kinh phí tổ chức những chuyến đi chơi như vậy, Hùng đã dùng số tiền đóng học phí bố mẹ gửi cộng với tiền vay mượn chỗ người quen. Sau nhiều lần bố mẹ phải chật vật lên đóng học phí rồi bảo lưu cho Hùng, cậu vẫn ngựa quen đường cũ, bỏ học chạy theo đam mê "làm giàu", cuối cùng cạn vốn nên bố Hùng tức giận để cậu tự quyết định cuộc đời. Kể từ đó, Hùng ngày càng lún sâu vào kinh doanh đa cấp.
 
Thế nhưng sau 3 năm gắn bó với công ty mỹ phẩm ORF, Hùng quyết định bỏ việc vì “làm giàu chẳng thể vội được” và đi bán trà đá kiếm. Giờ đây ngồi ngẫm lại Hùng thấy hối hận vì lãng phí thời gian chỉ để học "cách nói dối và lửa phình càng nhiều người càng tốt”.
 
Thực tế, không chỉ có sinh viên - những đối tượng được cho là cả tin -  mà ngay cả những người đi làm, dạn dày kinh nghiệm sống cũng bị cuốn vào vòng xoáy của hình thức kinh doanh theo mạng, mà không đâu khác, thường là những người có thu nhập thấp.
 
Chị Huyền, nhân viên may tại một khu công nghiệp, đã tham gia hình thức kinh doanh đa cấp được gần nửa năm. Chị cho biết: “Ban đầu tôi cũng không tin vào kiểu kinh doanh này, vì nhiều người cho đây là lừa đảo. Nhưng trong công ty tôi nhiều người tham gia lắm, mà thấy ai cũng có tiền sắm xe với điện thoại đẹp. Thiết nghĩ, đồng lương công nhân ít ỏi, làm cả ngày, thậm chí làm cả đêm mới được hơn 4 triệu/tháng nên tôi quyết định đánh liều xem sao”. Ngoài những giờ đi làm, thời gian còn lại chị dành cho những buổi hội thảo, gặp gỡ những người “quần là áo lượt” và nghe thuyết giảng về kỹ năng bán hàng. Thậm chí, chị còn thu âm để tua đi tua lại trong những bữa ăn và nghe cho “ngấm”.
 
Theo Huyền, ban đầu chị cũng phải bỏ ra một khoản tiền không nhỏ để mua sản phẩm của công ty, từ sữa tắm, dầu gội, thậm chí kem đánh răng hay nước rửa bát... chị đều phải mua với giá đắt gấp nhiều lần những sản phẩm cùng loại trên thị trường. Thế nhưng, chị cho rằng mình không dùng, không tin thì làm sao có thể thuyết phục người khác, nên đắt đến mấy vẫn quyết định đầu tư mặc dù tính đến nay, số hàng chị bán được chẳng thấm vào đâu so với những gì đã bỏ ra.
 
Không thể phủ nhận thực tế rằng từ ngày tham gia công việc này, các mối quan hệ của chị được mở rộng đáng kể, hầu hết bạn mới đều là “đồng nghiệp”. Nhưng không ít bạn bè, người thân cũng ngày càng xa lánh chị. “Nhiều người bạn chỉ cần vô tình gặp tôi là họ đã tìm cách lảng đi chỗ khác, hay lấy lý do công nọ việc kia để tránh nói chuyện với tôi vì sợ bị “dụ dỗ” mua hàng hay gia nhập mạng lưới phân phối. Mỗi lần về nhà, bố mẹ tôi còn thi nhau nói xấu công việc mà tôi đang làm, cho rằng nó chỉ là một trò lừa đảo. Thậm chí, bạn trai còn dọa nếu tôi tiếp tục, anh ấy sẽ chia tay và đến với người khác. Nhiều lúc tôi cũng cảm thấy tủi thân, như thể mình là một con bệnh bị hắt hủi, nhưng đâm lao thì phải theo lao, giờ tôi mà từ bỏ giữa đường thì coi như công cốc”- chị Huyền chia sẻ.
 
‘Muôn vài phiền toái’
 
Đồng ý là những người tham gia mạng lưới kinh doanh đa cấp cũng có những nỗi khổ riêng, khi họ luôn luôn phải đối mặt với áp lực về doanh số, hay tâm lý lo sợ “đồng nghiệp” được thăng chức, trong khi mình vẫn “lẹt đẹt” là một người phân phối không tiếng tăm. Thế nhưng, có mấy người đã tự đặt mình vào vị trí những “đối tượng” mà họ đã và đang tìm cách để tiếp cận, mà không ai xa, lại chính là bạn bè, người thân của họ.
 
Chị Nga, sinh viên năm cuối một trường đại học tại Hà Nội cho biết chị đã trở thành “mục tiêu” của mô hình kinh doanh theo mạng trong suốt một thời gian dài. Nga cho biết: “Tôi có một người bạn chạy theo kinh doanh đa cấp từ khi còn là sinh viên năm nhất. Cũng từ đó, trong những câu chuyện giữa tôi và người bạn ấy, tôi luôn luôn phải nghe những triết lý làm giàu, hay bí quyết thành công và nhiều nội dung tương tự. Không ít lần, bạn tôi đã gọi điện thuyết phục tôi mua kem đánh răng, sữa tắm để ủng hộ bạn ấy. Với một sinh viên như tôi thì mua một hộp kem đánh răng hơn 90 nghìn là một việc làm xa xỉ. Nhưng điều làm tôi thấy khó chịu nhất là thái độ “dai như đỉa” của bạn tôi. Nhiều lúc, tôi cũng muốn nói thẳng cho bạn ấy đừng làm phiền tôi nữa, nhưng hai đứa chơi với nhau cũng thân, nên tôi chỉ đưa ra các lý do để từ chối. Nhưng từ đó, tôi cũng không còn thân thiết với người bạn ấy như trước, thậm chí không nghe những cuộc điện thoại từ người đó với lý do... tắt chuông nên không biết, bởi biết đâu, nếu nghe điện thoại, tôi lại bị dụ dỗ mua những sản phẩm với giá “cắt cổ” như thế thì sao?!”
 
Không chỉ vướng phải nỗi khổ bị làm phiền, khó chịu bởi những lời chèo kéo, những “nạn nhân của kinh doanh đa cấp còn chịu nỗi khổ tiền mất tật mang vì quá trót dại mua phải những sản phẩm không uy tín.
 
Sau những lời mời chào như “rót mật”, bà Tâm, 58 tuổi, ở Cầu Giấy, Hà Nội, đã quyết định chi 5 triệu đồng để mua hai lọ thực phẩm chức năng vì được quảng cáo là chữa bách bệnh. “Nghe cô ấy giới thiệu nhiệt tình quá, mà đấy lại là đồng nghiệp ở công ty cũ nên tin tưởng mua hẳn 2 lọ về dùng thử xem sao”, bà Tâm cho biết. Không chỉ vậy, bà còn được cô bạn đồng nghiệp này dẫn hẳn đến một hội trường khá rộng để tham dự buổi hội thảo giới thiệu về thực phẩm chức năng mang thương hiệu T.S.
 
Nghe lời quảng cáo đây tuy chỉ là thực phẩm chức năng nhưng có tác dụng hơn cả thuốc, giúp cơ thể miễn nhiễm với bách bệnh, bà Tâm ngày nào cũng chăm chỉ sử dụng.
 
Tuy nhiên, sau 2 tháng sử dụng sản phẩm này, một lần cô con gái mới ở Anh về thăm nhà phát hiện mẹ thường xuyên dùng “thuốc lạ” mới tá hỏa ngăn bà lại vì “có ai kiểm chứng chất lượng của những sản phẩm này đâu”. Rồi bà được nghe một bài thuyết trình của cô con gái về tình trạng lừa đảo của của những công ty bán hàng đa cấp chuyên mồi chài những người nhẹ dạ mua hàng và vô tình tự biến mình thành một “mắt xích” mời chào những người khác, kể cả những người thân trong gia đình. Kể từ đó, tuy không trực tiếp dằn mặt cô bạn đồng nghiệp nhưng bà Tâm cũng luôn tìm cách từ chối khéo những lần gọi điện “có hàng mới về, tốt lắm” của cô bạn đồng nghiệp này vì nỗi lo tiền mất tật mang.
 
Nhưng nếu như mặt trái của kinh doanh đa cấp không chỉ dừng lại ở đó, nó không đơn thuần tác động tới người mua mà chính bản thân người bán cùng gia đình của họ cũng phải trả giá. Bà H (Cầu Giấy, Hà Nội) hiện đã về hưu, từng có một cuộc sống yên ấm và hạnh phúc với chồng con, các cháu nội ngoại cùng điều kiện gia đình khá giả. Song kể từ khi bập vào cái “bả đa cấp” – theo như các con của bà – thì bà đã biến thành một người hoàn toàn khác. Trước đây bà dành phần lớn thời gian để chăm sóc gia đình, con cháu thì bây giờ ngược lại, bà thường xuyên vắng nhà để tham gia các “hội thảo”, “hội nghỉ khách hàng” do hãng bán hàng đa cấp tổ chức. Mỗi khi về nhà, bà cũng tranh thủ thời gian hẹn khách hàng, người thân đến để trình bày về công dụng và giới thiệu sản phẩm. Bà còn trưng dụng riêng một phòng sinh hoạt chung của gia đình thành kho chứa hàng, với tổng vốn bỏ ra lên tới bốn, năm trăm triệu đồng. Hàng hóa la liệt như vậy, nhưng bán chẳng được bao nhiêu, bà sinh ra cáu bẳn, lại càng lao vào các hoạt động của đa cấp nhiều hơn hòng tìm kiếm cơ hội cho mình và đống hàng trót ôm. Tình trạng này diễn ra nhiều năm nay, khiến các thành viên trong gia đình chán nản, mệt mỏi, không khí gia đình rệu rã và lạnh lẽo theo cơn sốt đa cấp của bà H.
 
 
Kinh doanh đa cấp (hay còn gọi là kinh doanh theo mạng, bán hàng đa cấp) là một thuật ngữ chung để chỉ phương thức tiếp thị sản phẩm trực tiếp đến tay người tiêu dùng mà không qua các đại lý hay cửa hàng bán lẻ. Đây là một hình thức khá phổ biến và đã được công nhận tại nhiều quốc gia trên thế giới bởi lý do tiết kiệm chi phí thuê sân bãi hay các chương trình quảng cáo. Thay vào đó, người phân phối sẽ được chia hoa hồng dựa trên từng sản phẩm bán được.
 
Về mặt lý thuyết, cả người bán và người mua sẽ được lợi nhiều từ hình thức kinh doanh đa cấp. Vì đã trừ đi được một khoản chi phí rất lớn từ quảng cáo, tiếp thị, phân phối, hoa hồng đại lý, vận chuyển, lưu kho…, nên giá của sản phẩm sẽ rẻ hơn khá nhiều nếu so với sản phẩm cùng loại bày bán trong cửa hàng, siêu thị. Trong khi đó, người bán vẫn có thể có hoa hồng cao.
 
Tuy nhiên, việc bán hàng đa cấp phụ thuộc rất nhiều và tố chất của mỗi cá nhân bởi việc mua bán không tập trung tại không gian của công ty mà diễn ra mọi nơi, mọi lúc, đòi hỏi vào kỹ năng bán hàng và quan hệ khách hàng của từng người. Chính điều này là cơ sở để hoạt động kinh doanh đa cấp ở Việt Nam “trượt dài” vì khi không gắn với các yếu tố kỷ luật và được ốp theo những quy định nghiêm ngặt, đồng thời chỉ chăm chăm tìm cách moi tiền từ túi người mua để hướng tới lợi nhuận cao nhất có thể với tâm lý giàu sổi, giàu nhanh, người bán đã tìm mọi biện pháp, thậm chí cả “thủ đoạn” để đạt được mục đích của mình. Ví dụ như thổi phồng về giá trị sản phẩm, gắn cho sản phẩm những tính năng mà nó không có, hứa hẹn những dịch vụ không bao giờ thực hiện được… Và phần lớn, những nỗ lực cá nhân của những người bán hàng đa cấp ở Việt Nam kiểu này thường dẫn đến chung một kết quả: biến hoạt động kinh doanh lành mạnh thành hành vi lừa đảo và đánh mất luôn niềm tin của người tiêu dùng vào sản phẩm, vốn không phải quá tốt, nhưng cũng không đến nỗi quá tồi.
 
Làm giàu là ước mơ chính đáng và đáng được khuyến khích. Song làm giàu không dựa trên nền tảng tri thức và văn hóa cộng với thực tâm, thực tài thì kết quả sẽ biến thành hậu quả. Mà cái giá phải trả lớn nhất là biến cả một ngành kinh doanh thành một thứ “bệnh truyền nhiễm” dưới con mắt của không ít người trong xã hội.