Skip to main content

Bối rối với “Đại học nghiên cứu”

Bối rối với “Đại học nghiên cứu”

Với luật Giáo dục đại học (GDĐH) bắt đầu ứng dụng từ năm nay, khả năng các trường ĐH hiện tại đáp ứng điều kiện để trở thành ĐH nghiên cứu còn rất nhiều vấn đề cần làm rõ. Từ định hướng cho đến cách làm và cả những quy định của Nhà nước đều khiến các trường ĐH “lúng túng” với danh nghĩa “ĐH nghiên cứu”.

Theo quy định của luật GDĐH, các trường sẽ được phân thành 3 tầng ĐH gồm: nghiên cứu, ứng dụng, thực hành. Thế nhưng, tính đến thời điểm hiện tại, các trường ĐH tuy được định hướng trở thành ĐH nghiên cứu nhưng đa phần đều đang đào tạo theo hướng ứng dụng và thực hành.
 
Thông tin trên báo Thanh niên cho hay, khảo sát mới đây của nhóm nghiên cứu thuộc dự án “Phát triển GDĐH theo định hướng nghề nghiệp - ứng dụng” của Bộ GD-ĐT cho kết quả là nhiều trường, ngay từ đầu, xác định là trường ĐH nghiên cứu nhưng thực tế lại đào tạo đa hệ, đa lĩnh vực đáp ứng nhu cầu lao động xã hội, chủ yếu là ứng dụng và thực hành. Nhóm nghiên cứu đánh giá: đây là một mâu thuẫn lớn trong việc phát triển vì nghiên cứu và thực hành là 2 định hướng hoàn toàn khác nhau.
 
Trên thế giới, mô hình ĐH nghiên cứu chỉ tập trung đào tạo sau ĐH và nghiên cứu khoa học. Nhưng tại Việt Nam hiện nay, các trường ĐH, kể cả trường có tiếng như ĐH Bách khoa Hà Nội hay ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội (KTQD HN), mặc dù định hướng là trở thành ĐH nghiên cứu nhưng vẫn đang đào tạo đa ngành, đa hệ theo hình thức ứng dụng – thực hành. Thậm chí, ĐH KTQD HN còn có cả hệ đào tạo từ xa để nâng cao dân trí.
 
Bên cạnh đó, một số trường ĐH vừa được nâng cấp lên từ CĐ, hay các trường ĐH vùng, thực lực nghiên cứu khoa học rất yếu và chưa được chú trọng, việc đào tạo chỉ tập trung vào liên thông, tại chức và có cả trung cấp dạy nghề, nhưng vẫn định hướng là trường ĐH nghiên cứu.
 
Trong khi, mới chỉ là đào tạo ĐH (ứng dụng –thực hành), chất lượng giảng viên, theo quy định của Bộ, đã phải có tối thiểu một giảng viên trình độ tiến sĩ và 3 giảng viên thạc sĩ. Trong trường hợp, trường muốn tự quyết định lấy nội dung của chương trình thì mỗi ngành phải có ít nhất 5 giảng viên cơ hữu là tiến sĩ, trong đó có ít nhất một giáo sư, phó giáo sư hoặc tiến sĩ khoa học. Nếu là ĐH nghiên cứu thì yêu cầu còn cao hơn nữa. Điều này, theo ông Lê Viết Khuyến, nguyên Vụ phó Vụ GDĐH (Bộ GD-ĐT) cho rằng: Đây là tiêu chí mà phần lớn các trường không đáp ứng được.  
 
Ngoài ra, quy định của Bộ về mức thời gian nghiên cứu khoa học với giảng viên áp dụng chung cho tất cả loại hình trường hiện nay được cho là không phù hợp. Bởi đặc điểm ngành nghề mỗi trường khác nhau, nên một chuyên gia giáo dục cho rằng: không thể có cùng tiêu chuẩn kiểm định áp dụng cho ĐH quốc gia lại đi dùng luôn cho một trường tư hoặc công vừa mới thành lập từ một trường CĐ.
 
Nhưng thiết nghĩ, điều này cũng là sự ngụy biện của cả 2 bên, bởi sẽ vẫn có mẫu số chung đúng và đủ giờ lao động tối thiểu cho những nghiên cứu khoa học đúng nghĩa với đủ mọi ngành nghề. Làm đủ số thời gian đó một cách nghiêm túc, chắc chắn sẽ ra kết quả. Chỉ có điều, quy định đưa ra thời gian nhưng lại cũng không đầu tư đủ thời gian để tính toán ra “mẫu số chung” ấy nên đã tạo cớ để bị phản đối là không phù hợp, âu cũng là lẽ thường.
 
Với những quy định, chính sách chưa phù hợp, cộng với chuyện định hướng một đằng, đào tạo một nẻo rõ ràng như thế mà các trường vẫn khăng khăng trở thành ĐH nghiên cứu, có lẽ cũng do chuyện ngân sách quyết định phần lớn. Bởi theo quy định phân tầng, nếu chỉ là ĐH nghề nghiệp thực hành, xếp vào tầng thấp, thì sẽ bị cơ quan quản lý xếp loại: đầu tư ít. Vì thế, chuyện này vô tình khuyến khích các trường, dù biết thực lực của mình nhưng vẫn cố trở thành “ĐH nghiên cứu”.
 
Ngành giáo dục suốt cả năm qua cứ cố xóa bỏ dư luận về sự thiếu công bằng trong từng học sinh, từng lớp học, từng ngôi trường, thế nhưng ngay từ trong quy định của mình, ngành đã tự “phân tầng” và bất bình đẳng một cách vô căn cứ. Chuyện đầu tư ít hay nhiều không phụ thuộc vào cái danh là trường nọ, trường kia mà phải ở ý nghĩa đóng góp và nhu cầu thực của mỗi trường. Vì thế, bảo sao mà căn bệnh “thành tích” trong giáo dục vật vã mãi mà không thể xóa bỏ được. Xét cho cùng, cũng là do vẫn phụ thuộc vào cơ chế xin – cho, nên dù có “yếu”, các trường ĐH vẫn cứ cố mà “nghiên cứu” để còn “ra ngân sách” mà “ứng dụng và thực hành”.