Vì sao Đông Á luôn dẫn đầu các kỳ thi quốc tế?

Vì sao Đông Á luôn dẫn đầu các kỳ thi quốc tế?

Minh Phương 20:27 19/12/2016

Kết quả 2 cuộc thi: Toán học quốc tế & Nghiên cứu khoa học (TIMSS) và Chương trình đánh giá sinh viên quốc tế (PISA) một lần nữa cho thấy các nước Đông Á dành được xếp hạng cao trên thế giới. Vậy lý do gì khiến Đông Á vượt lên các nước khác để dẫn đầu các kỳ thi quốc tế?

Hơn 1 năm qua, thứ hạng những nước khác đều thay đổi trong bảng xếp hạng nhưng chất lượng giáo dục ở khu vực Đông Á (Trung Quốc, Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản) tiếp tục vượt lên cao. Và khoảng cách giữa những nước Đông Á với các nước còn lại đang ngày càng mở rộng. Về cơ bản, có 4 yếu tố giúp cho những nước Đông Á đang được xếp hạng cao về giáo dục.
 
1. Văn hóa và tư duy
 
Ở những nước châu Á, giáo dục luôn được xếp hạng cao và coi trọng. Người dân ở đây cũng tin rằng sự cần cù, chăm chỉ và nỗ lực còn có giá trị hơn tài năng thiên bẩm. Họ thường nói rằng, thành công được quyết định bởi 99% nỗ lực và 1% tố chất. Do vậy, các nhà nghiên cứu Đông Á thường coi sự nỗ lực, chăm chỉ là yếu tố quan trọng để học sinh đạt được kết quả cao trong các kỳ kiểm tra.
 
Đề cao sự chăm chỉ rèn luyện được cho là điểm nổi bật của phương pháp giáo dục đang “thịnh hành” ở Đông Á. Hầu hết trường học ở các nước trong khu vực này hiếm khi xếp loại và phân chia học sinh thành các nhóm học theo khả năng, năng khiếu. Vì thế, mỗi học sinh đều có quyền tiếp cận các chương trình học giống nhau, có nghĩa nhiều học sinh có thể đạt điểm số cao hơn, tạo nên sự đồng đều trong giáo dục.
 
Ngoài giờ học chính khóa, học sinh ở Đông Á còn phải tham gia vào các lớp học thêm, ngoài giờ học, thậm chí có những đứa trẻ phải học thêm vào buổi tối. Nhìn chung, học sinh Đông Á phải học thêm 3 tiếng sau giờ học chính khóa và dành thêm 2 tiếng nữa để làm bài tập về nhà mỗi ngày.
 
Tuy việc học tăng cường sau giờ học có thể đem lại kết quả tốt hơn, nhưng các nhà giáo dục ở nhiều nước Đông Á cũng lo ngại trước tình trạng học quá sức khiến học sinh bị căng thẳng. Điều này không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe tinh thần và thể chất của học sinh mà còn có thể tác động tiêu cực tới kết quả học tập hiện tại.
 
Có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng học sinh ở những trường học phải học tập với cường độ cao, dày đặc luôn cảm thấy stress nặng nề (điều hiếm khi xảy ra với các nước phương Tây). Đôi khi áp lực về thành tích đè nặng lên cả học sinh và phụ huynh.
 
2. Chất lượng giáo viên
 
Ảnh: Getty Images
 
Dạy học là một nghề được tôn trọng ở Đông Á. Do đó, sự cạnh tranh để được làm thầy cô giáo khá khốc liệt. Đổi lại, làm việc trong ngành giáo có điều kiện tốt, được hỗ trợ liên tục để phát triển chuyên môn.
 
Giáo viên ở Thượng Hải có khối lượng giảng dạy thấp hơn ở Anh, dù lớp có đông học sinh hơn. Ở cấp tiểu học, các trường học đã tuyển chọn và sử dụng các giáo viên chuyên Toán vì ở Đông Á, Toán được coi là môn học chính, quan trọng và để đánh giá năng lực học sinh. Mỗi ngày, giáo viên chuyên Toán chỉ giảng dạy 2 tiết học, mỗi tiết dài 35-40 phút. Nhờ đó, giáo viên có thời gian lên kế hoạch cho bài giảng hoặc trợ giúp học sinh khi cần thiết, cùng đó là thời gian để họ phát triển nghiệp vụ trong các nhóm nghiên cứu giảng dạy, đào tạo.
 
Tại Nhật Bản, “nghiên cứu giờ học” được áp dụng tại các trường tiểu học. Hoạt động này bao gồm: chuẩn bị chu đáo kế hoạch giảng dạy, quan sát quá trình dạy học của đồng nghiệp, sau đó rút ra những bài học cho mình cũng như nhận xét, góp ý để cùng nhau phát triển, nâng cao chuyên môn.
 
3. Sử dụng giáo cụ trực quan
 
Phần lớn các thuyết giáo dục Đông Á đều được xây dựng, chịu ảnh hưởng nhiều từ những nghiên cứu, phát triển của phương Tây. Ví dụ “thuyết học tập qua trải nghiệm” của Jerome Bruner cho rằng người học cần được trải nghiệm trực quan về một khái niệm bất kỳ. Sau đó sử dụng hình ảnh, mô hình hiển thị… để giúp học sinh nắm bắt tốt, hiểu sâu, nhớ lâu các bài học, đặc biệt trong việc học các công thức hoặc ngôn ngữ mới.
 
Học thuyết này đã được dịch ra tiếng Singapore và được sử dụng rộng rãi ở “quốc đảo sư tử”. Điều đó được thẻ hiện rõ ở cách giảng dạy Toán học ở Singapore: tập trung vào các mô hình trực quan, hình ảnh rồi mới tới công thức hóa.
 
4. Sự thúc đẩy từ cộng đồng
 
Vào những năm 1970, nền giáo dục của Singapore còn chậm phát triển, tụt hậu so với thế với. Những cải cách giáo dục ở Singapore là thành tựu của việc thay đổi từ cấp cao nhất – cấp quốc gia, gồm: hoàn thiện chương trình giảng dạy, sách giáo khoa phổ thông và đào tạo giáo viên một cách bài bản, quy củ trước khi được đứng lớp giảng dạy.
 
 
Tình trạng tương tự về đổi mới giáo dục cũng diễn ra ở Thượng Hải và Hàn Quốc, do cấp quốc gia trực tiếp chỉ đạo và lên kế hoạch. Nghĩa là tất cả các trường đều sử dụng tài liệu, chương trình giảng dạy do chính phủ phê chuẩn. Đồng thời, có một tiêu chuẩn đào tạo, tuyển chọn giáo viên được đưa ra và công bố rộng rãi. So với nước Anh, sự khác biệt giữa các trường học không quá lớn.
 
Thành công của giáo dục Đông Á đã biến những nước này trở thành “hình mẫu xã hội” cho nhiều quốc gia. Điển hình là những người đang hoạch định chính sách giáo dục ở Anh đang tìm cách thực hiện theo cách thức giảng dạy của người châu Á.
 
Tuy nhiên, hệ thống, nền tảng giáo dục ở Đông Á có thực sự tốt đến mức khiến cho nhiều nước nên coi đó là hình mẫu lý tưởng? Sự cào bằng trong giáo dục, đòi hỏi phát triển toàn diện, ít chú trọng đào tạo theo năng khiếu, sở thích và năng lực ở học sinh khiến một bộ phận không nhỏ học sinh cảm thấy chán nản, không hứng thú thậm chí thấy căng thẳng trong học tập, nhắc tới học là “sợ”.
 
Trong khi học sinh Đông Á học ngày học đêm, dành rất nhiều thời gian để ôn luyện, làm bài tập về nhà để có một thứ hạng cao trong các kỳ thi quốc tế thì ở Phần Lan – nước được coi là có chất lượng giáo dục thuộc top đầu thế giới – học sinh dường như không phải vất vả, khổ sở như vậy. Năm 2016, giáo dục Phần Lan được xếp hạng 12 trên toàn thế giới, trong khi chính phủ nước này có chủ trương tăng giờ chơi, giờ giải lao giữa mỗi tiết học, thậm chí đề ra hẳn điều luật về thời gian chơi cần đảm bảo cho học sinh. Nghĩa là học sinh ở Phần Lan không phải “thức ngày, cày đêm” mà vẫn có thứ hạng cao trong học tập.
Chuyên gia giáo dục Phần Lan Pasi Sahlberg cho biết: “Giáo dục Phần Lan không tập trung chuẩn bị kiến thức khoa học cho trẻ. Thay vào đó, những nhà làm giáo dục cần giúp trẻ cảm thấy hạnh phúc và có trách nhiệm với bản thân”.
 
Tóm lại, chỉ thời gian mới có thể trả lời: Sự kết hợp những điểm mạnh trong giáo dục từ các nước Đông Á và Anh có hay không tránh được những tác động tiêu cực như căng thẳng và kiệt sức – điều mà phần lớn học sinh Đông Á đang gặp phải?
 
 

Minh Phương

Từ Khóa :