Tính kinh tế của nghệ thuật siêu đắt



Tính kinh tế của nghệ thuật siêu đắt

Lục Kiếm 9:25 4/2/2018

Bạn nghĩ gì khi có người mua bức họa Salvator Mundi của Leonardo da Vinci với giá 450 triệu USD? Bạn có thể cho rằng đó là một khoản đầu tư, khi bức trang từng chỉ có mức giá 10.000 USD vào năm 2005. Nhưng chưa đủ.

Năm 2017, bức họa 500 tuổi “Salvator Mundi” của Leonardo da Vinci được bán với giá 450 triệu USD ở Mỹ. Đây cũng là bức họa duy nhất của da Vinci nằm trong tay tư nhân tính đến lúc này. Nếu bạn tò mò người mua là ai, thì đó chính là Thái tử Saudi Arabia Mohammed bin Salman. Ảnh: AAP/The Conversation

Theo quan điểm kinh tế, nghệ thuật có thể là khoản đầu tư. Dù có nghiên cứu cho thấy đầu tư nghệ thuật mang lại những kết quả khác nhau. Nghệ thuật cũng có cái mà các nhà kinh tế gọi là “lợi ích tinh thần”, chỉ nhu cầu được thụ hưởng, trải nghiệm hoặc khoe khoang. Điều này là chìa khóa cho mức giá 450 triệu USD.

Nghệ thuật là khoản đầu tư

Với tư cách một khoản đầu tư, “giá trị” của nghệ thuật rất khác nhau, phụ thuộc vào một số yếu tố. Tỷ như tác phẩm nghệ thuật gắn liền với các phong trào, giai đoạn “đúng mốt hiện xu hướng hiện đại” sẽ vượt trội hơn so với các loại hình nghệ thuật khác.

Chẳng hạn: nghệ thuật đương đại hiện đang vượt lên trường phái nghệ thuật ấn tượng. Nhu cầu mạnh mẽ với nghệ thuật đương đại kết hợp với nguồn cung hạn chế đã dẫn đến một số nghệ sĩ trước đây bị bỏ qua, như Keith Haring, nay gây chú ý với các nhà sưu tập.

Nhưng nó cũng phải là tác phẩm của những nghệ sĩ hàng đầu đang có nhu cầu nóng bỏng. Một phân tích đã chỉ ra rằng: Chỉ có 25 nghệ sĩ (bao gồm Jean-Michel Basquiat, Andy Warhol và Gerhard Richter) chiếm 1,2 tỷ USD trong tổng số 2,7 tỷ USD bán đấu giá tác phẩm nghệ thuật đương đại toàn cầu năm 2017.

Chỉ có hai phụ nữ, Agnes Martin và Yayoi Kusama, nằm trong danh sách 25 này. Điều này cho thấy những vấn đề xung quanh chuyện giới tính trong làng hội họa và quá trình lập nghiệp và thành danh của họ.

Bức “Untitled” (1982) của Jean-Michel Basquiat được bán đấu giá vào tháng 5/2017 với giá 110,5 triệu USD. Ảnh: Sotheby's/NYT

Các nghiên cứu khoa học về nghệ thuật với tư cách một khoản đầu tư cho ra các kết quả khác nhau. Theo đó, nghiên cứu về thị trường nghệ thuật ở Canada cho thấy lợi nhuận thấp hơn đầu tư vào thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, nghiên cứu xác định những lợi ích khác của việc rót tiền vào nghệ thuật, đa dạng hóa danh mục đầu tư chẳng hạn.

Nhưng nghiên cứu trên khoảng 35.000 tác phẩm hội họa của các nghệ sĩ Úc cho thấy lợi nhuận tài chính trung bình đạt khoảng 4-15%. Lợi nhuận từ các bức tranh của các nghệ sĩ Úc hàng đầu như Brett Whiteley và Jeffrey Smart vượt quá lợi nhuận thị trường chứng khoán. Nghiên cứu cũng cho thấy các bức tranh sơn dầu và màu nước cũng như những bức được bán bởi một số nhà đấu giá nhất định, có giá cao hơn.

Với những tác phẩm được gọi là “kiệt tác”, chẳng hạn của Leonardo da Vinci, bất ngờ lại có màn hiệu suất tài chính tồi tệ hơn tổng thể thị trường nghệ thuật. Tuy nhiên, bởi nghệ thuật còn mang lại những lợi ích khác thông qua việc hưởng thụ giá trị (uy tín, trang trí,…), nên nó khác với cổ phiếu và trái phiếu. Lợi nhuận có thể thấp hơn, nhưng nghệ thuật vẫn đáng để đầu tư.

Thị trường nghệ thuật Úc phản ánh những gì đang xảy ra trên thị trường nghệ thuật đương đại toàn cầu. Chẳng hạn: 5 tác phẩm có giá trị nhất nước Úc được bán vào năm 2017 chiếm gần 10% tổng giá trị của tất cả tác phẩm được bán ra. Trong khi việc bán được Earth Creation 1 của nghệ sĩ Emily Kame không gây sự chú ý như tác phẩm của Leonardo, thì nó cũng có giá 2,1 triệu đô Úc, tức là gần gấp đôi doanh số bán đấu giá một thập kỷ trước đó.

Bức “Earth’s Creation 1” của Emily Kame Kngwarreye. Ảnh: AAP

Hưởng thụ nghệ thuật

Thưởng thức nghệ thuật, cảm giác bị thách thức hoặc cảm hứng, là chủ quan và khó đo lường. Nhưng điều đó không có nghĩa việc “hưởng thụ” nghệ thuật không làm tăng giá trị của nó.

Các nhà kinh tế học sử dụng thuật ngữ “lợi nhuận tinh thần” hay “lợi ích tinh thần” để mô tả lợi ích của việc hưởng thụ các tác phẩm nghệ thuật. Điều này được chia thành ba khu vực chính.

Một là sự thỏa mãn khi ủng hộ các tác phẩm nghệ thuật và nghệ sĩ. Động lực này đặc biệt quan trọng với những người quyên góp bộ sưu tập của mình cho viện bảo tàng hoặc các hình thức ủng hộ nghệ thuật khác. Dù động cơ này rất quan trọng, nhưng nó không liên quan trực tiếp đến giá đấu giá.

Hai là lợi ích “chức năng” (hay nôm na hơn là trang trí) của các tác phẩm được sử dụng để tô điểm cho không gian. Điều này nói chung là gần gũi nhất với ý tưởng của nghệ sĩ khi họ bắt đầu cầm cọ vẽ.

Tác phẩm “Pumpkin” bên bờ biển của Yayoi Kusama. Ảnh: Stephen Mansfield.

Ba là, lợi ích tinh thần còn đến từ việc sở hữu nghệ thuật, đặc biệt khi nó được sử dụng để thể hiện sự sành sỏi, giàu có và quyền lực. Ví dụ, lối ra vào tiền sảnh văn phòng thường trưng bày các tác phẩm nổi bật lớn của nghệ thuật hiện đại hay đương đại. Đây là điều mà các nhà kinh tế gọi là “tiêu dùng phô trương”. Khi mọi người trở nên giàu có, nhu cầu của họ với nghệ thuật cao cấp sẽ tăng lên. Thật vậy, nghệ thuật truyền thống lâu đời được sử dụng như một tuyên bố quyền lực, bao gồm cả những địa điểm tôn giáo. Điều khiến cho thị trường nghệ thuật, đặc biệt ở “tầng cao”, là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa đầu tư và hưởng thụ, được gắn thêm “động cơ” từ nguồn cung hạn chế.

Tác phẩm của những nghệ sĩ nổi tiếng cung cấp tín hiệu về chất lượng và đảm bảo cho thị trường. Do đó, các tác phẩm của họ thường được săn đón bởi những người giàu có và quyền lực. Sự độc đáo và hiếm có của các tác phẩm không chỉ thúc đẩy nhu cầu, mà còn hạn chế cung, tạo ra cơn bão hoàn hảo để tăng giá.

Dù vậy, ngay cả điều này cũng không hoàn toàn giải thích được con số 450 triệu USD trả cho Salvator Mundi của Leonardo. Phân tích bán hàng cho thấy nhà đấu giá đã có màn marketing đáng nể và được cho là đóng góp đáng kể vào mức giá cao như vậy.

Nhưng ngoài giá trị thương mại, nghệ thuật còn có giá trị văn hóa và ý nghĩa xã hội mà không hoàn toàn “dịch” được hết sang giá thị trường. Vậy nên, trong khi Salvator Mundi của Leonardo bán được với giá 450 triệu USD, các kiệt tác không thể giao dịch như trần Michael Angelo của Nhà thờ Sistine không phải là vô giá trị. Chúng là vô giá và “đứng trên thị trường”.

 


Lục Kiếm

Theo The Conversation

Từ Khóa : kinh tế học