Skip to main content

Thậm thu tài nguyên: Lời nguyền cay đắng cho các nước đang phát triển

Thậm thu tài nguyên: Lời nguyền cay đắng cho các nước đang phát triển

Có lẽ thứ đang phải trả giá đau đớn nhất để đánh đổi sự phát triển của đất nước là tài nguyên thiên nhiên. Nhưng éo le hơn, tình trạng nghèo đói, bất bình đẳng vẫn đeo bám ở ngay những nước có rừng vàng biển bạc.

Trước tiên, mối tương quan giữa năng lượng và chủ nghĩa độc đoán là rất rõ ràng. Larry Diamond của Đại học Stanford nhận định: “Có 23 quốc gia trên thế giới độc chiếm 60% sản lượng xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt không có nền dân chủ thực sự”. Không chỉ vậy, nhà kinh tế được giải Nobel Joseph Stiglitz từng khẳng định: “Có mối liên kết mạnh mẽ giữa sự giàu có về tài nguyên với sự yếu kém của nền dân chủ, sự lan tràn của tham nhũng và nội chiến”.
 
Nguồn lợi tài nguyên có tính quyết định mối liên hệ giữa trách nhiệm của chính quyền và công dân. Bằng các chính sách ưu đãi giảm thuế các hoạt động sản xuất khác, đồng thời chính quyền có thể sử dụng nguồn thu từ tài nguyên thiên nhiên để cung cấp các dịch vụ xã hội hiệu quả, giúp nâng cao mức sống của người dân. Các khoản thu này cũng tạo ra sự giàu có đáng kinh ngạc.
 
Tuy nhiên, tài nguyên thiên nhiên có thể tạo điều kiện cho mạng lưới tham nhũng lộng hành, trở thành mật ngọt cho các chính phủ và nhà đầu tư nước ngoài ve vãn, kéo theo tình trạng bất ổn chính trị, bất bình đẳng xã hội. Lịch sử của các nước nhiều dầu mỏ ở vùng Trung Đông là minh chứng rõ ràng nhất. Vì vậy, thay vì đóng góp cho sự phát triển nhân quyền, tăng trưởng kinh tế và hòa bình xã hội, giàu tài nguyên dầu mỏ và khoáng sản thường làm tăng nguy cơ bất ổn của đất nước.
 
Hơn nữa, nguồn thu tài nguyên nhiên liên quan đến tình trạng mức tăng trưởng kinh tế chậm, bất bình đẳng và nghèo đói, là một trong những thủ phạm gây ra “căn bệnh Hà Lan” -  tên gọi một loại nguy cơ kinh tế xảy ra khi đẩy mạnh xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên làm suy giảm ngành công nghiệp chế tạo. Đồng thời, nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu và khai thác, xuất khẩu tài nguyên sẽ làm tăng tỷ giá hối đoái của một quốc gia, làm tổn thương, suy yếu khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực phi tài nguyên.
 
Các khía cạnh khác của một nền kinh tế phụ thuộc xuất khẩu tài nguyên là làm biến động giá cả hàng hóa, tác động tiêu cực đến nền kinh tế, làm suy yếu quá trình phát triển của ngành nông nghiệp…. Ngay cả khi doanh thu dầu mỏ tăng trưởng cao cũng chỉ mang đến cơ hội tham nhũng cho một vài tầng lớp nhất định trong xã hội.  
 
Vì vậy, tài nguyên thiên nhiên chưa hẳn là một ân huệ. Là nước sản xuất dầu mỏ lớn thứ hai của châu lục, Angola trở thành tấm gương điển hình. Mặc dù có tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu dầu mỏ nhiều nhất thế giới trong vòng năm 2005-2010, trung bình khoảng 17%/năm, nhưng 70% dân chúng nước này vẫn sống dưới mức nghèo khó, dịch tả và sốt rét lan tràn, tỷ lệ tử vong sơ sinh đứng đầu thế giới. Dân chúng phải đối phó với giá sinh hoạt cao ngất ngưởng, đồng thời có nguy cơ thất nghiệp vì đa số công việc trong ngành khai thác và lọc dầu đều nằm trong tay nước ngoài.
 
Ngoài ra, sự hiện diện của các nguyên tài nguyên dầu mỏ và khí đốt làm trầm trọng hơn nguy cơ xung đột bạo lực trong nước. Danh sách những nước có chiến tranh dân sự hầu hết đều liên quan đến tài nguyên thiên nhiên. Bao gồm: Nigeria, Angola, Miến Điện, Papua New Guinea (Bougainville), Chad, Pakistan (Balochistan) và Sudan.
 
Có thể lý giải mối tương quan trên với ba lý do: Thứ nhất, sự giàu có tài các nguồn tài nguyên biến thành động lực để những kẻ có lòng tham nổi loạn, ly khai. Thứ hai, nhiều tài nguyên cho phép các phiến quân tài trợ các hoạt động của mình. Cuối cùng, mức độ tham nhũng, tống tiền và quản lý kém nguyên tài nguyên thường tạo ra bất bình dẫn đến các cuộc nổi loạn. Chính vì vậy, một đất nước giàu có chính từ những sáng kiến cải thiện thể chế từ đó nâng cao năng lực chống tham nhũng, khả năng quản lý tài nguyên để bảo vệ cuộc sống của người dân thay vì tận thu tài sản mà thiên nhiên ban tặng cho một vài nhóm lợi ích.