Pha ấm trà ngon dễ nhưng không đơn giản



Pha ấm trà ngon dễ nhưng không đơn giản

Linh Vũ 19:34 24/5/2014

Trà là đồ uống của người nông nghiệp thích cuộc sống ổn định, an nhàn, bình thản. Người Việt Nam thường trọng tình, trọng đức, trọng văn, và đời sống cộng đồng cao độ nên cái thú thưởng trà của người Việt khá linh hoạt, không quá cầu kỳ, cũng không quá đơn giản, nghi lễ cũng vừa phải song lại chẳng đến mức quá bình dân.

Từ xa xưa, người Việt Nam đã có thói quen uống trà ban đầu chỉ là một thứ uống giải khát, dần dần phổ biến rộng rãi, sau được nâng lên thành nghệ thuật tao nhã, một biểu hiện văn hóa của con người. Trà theo bước con người đi khắp mọi nơi, đi vào các tầng lớp xã hội của mọi dân tộc, trở thành thức uống đặc biệt ưa thích của thế giới.
 
Trà cũng được trồng nhiều ở các vùng miền đồi núi trung du. Thậm chí ở Thanh Hóa khi xưa còn có Trà Sơn nghĩa là núi Chè. Và giờ vẫn còn nhiều vùng trồng chè nổi tiếng, cung cấp ra cả thị trường thế giới như Thái Nguyên,  Tuyên Quang
 
 
Uống trà trở thành một nếp sống, sinh hoạt văn hóa của cộng đồng Việt, bởi vậy mà có rất nhiều câu ca dao tục ngữ nói đến đặc sản chè như: Ai về Hà Tĩnh thì về/ Mặc lụa chợ Hạ, uống nước chè Hương Sơn; Trai khôn uống chè Ba Trại, gái dại uống chè Nghè, mẹ bảo chẳng nghe cứ uống chè Bồng Lạng hay nắng tốt chè, mưa tốt lúa; Thấy sương mà thương cho chè; Nhìn đồng bông lúa uốn câu, cuốc đồi bổ hố bảo nhau trồng chè.
 
Ấm trà xuất hiện ở mọi gia đình nó như một nghi lễ quan trọng trong các sự kiện làng xóm, gia đình, trong các buổi lễ tết hay cả những buổi tâm giao với bạn bè. Thậm chí nhiều người còn nghiện trà đến độ chân tay bủn rủn nếu không được uống trà trong ngày hay những cữ giờ quen thuộc. Với họ, vị đắng chát của trà như có ma lực “trói chân” họ Nhà thơ Tú Xương từng có câu Một trà, một rượu, một đàn bà/ Ba cái lăng nhăng nó hại ta/Chừa được cái gì hay cái nấy,/Có chăng chừa được rượu với trà!
 
Cùng là một loại trà, nhưng lại có nhiều cách thưởng thức khác nhau. Ở những vùng nông thôn người ta thường thích uống chè tươi vì vừa lành vừa mát. Uống chè tươi cũng thể hiện tính cộng đồng của văn hóa làng xã Việt Nam, không phân biệt giới tính, địa vị, nghề nghiệp, tuổi tác. Thế nên những dịp sinh hoạt tập thể hay khi nhà có việc, là đội “hậu cần” lại chuẩn bị chuẩn bị sẵn cả nồi nước chè to dễ đến vài chục lít. Bà con hàng xóm ngồi quây quần trên những chiếc chiếu đôi trải giữa sân và uống chè tán chuyện. Chè  tươi cũng có cách pha riêng của nó, làm đúng mới thưởng được cái vị mát, ngòn ngọt của lá trà, còn không sẽ chỉ thấy vị nồng ngai ngái. Cách ủ chè tươi vô cùng đơn giản, chỉ là chè khi hái về rửa sạch, vò kỹ cho giập lá, cọng bẻ gãy tước ra. Ðun sôi nước mới cho chè vào, lại đun tiếp rồi ủ khoảng 15 phút, ngấm là đem ra dùng. Khi xưa chè tươi không uống bằng chén, mà uống bằng bát. Nước chè múc ra bát, mầu vàng sáng, đặc sóng sánh, vị ngọt chát, uống một bát dư vị còn ngọt mãi trong cổ.
 
Trà xanh cũng là cách uống rất phổ biến trong giới bình dân. Búp trà để héo, vò, sao trên chảo nóng, phơi hoặc sấy khô, khi pha nước có màu xanh. Ngoài ra còn có chè khô ấy là loại lá chè già phơi khô, vò nhỏ để uống dần, nước của nó sau khi pha thường có mầu đỏ.
 
 
Ướp hương sen cho trà.
 
Bên cạnh những loại trà mộc mạc ấy còn có những loại chè được coi là hảo hạng bởi cách chế biến cầu kỳ như sấy khô, ướp hương hoa như trà sen, trà nhài, trà hoa cúc… Đặc biệt nhất là trà sen với cách ướp hương tự nhiên rất cầu kỳ. Từng nhúm chè nhỏ gói và trong những giấy bản nhỏ, thả vào bông hoa, đêm xuống, bông hoa khép cánh ấp ủ trà cả đêm rồi hôm sau, người ta dỡ trà, tách những hạt trắng ở đầu nhụy hoa đem trộn với trà ủ kín. Khi gạo sen teo lại thì đem sây ở nhiệt độ vừa phải để giữ mùi hoa.
 
Nói vậy để thấy, mỗi một loại trà đều có cách pha khác nhau, nhưng thông thường đều đầy đủ dụng cụ gồm bình trà, thuyền trà (cái bát lớn để ấm), chén đựng trà và nước sôi. Nghệ thuật uống trà Việt Nam phản ảnh đầy đủ nét văn hóa của người Việt từ khâu chọn trà, xử lý trà, đun nước, pha trà, rót trà và tận hưởng hương vị trà.
 
Trong khi uống chè, người Việt không phải theo một nghi thức cầu kỳ nào như Trung Quốc hay Nhật Bản, nhưng vẫn rất độc đáo vì tính mộc mạc, chân tình, bình dị. Dẫu vậy nó vẫn có những quy tắc rất riêng như chủ nhà thường tiếp nước cho khách, người nhiều tuổi được mời uống trước… Người xưa từng có câu nhất thủy, nhì trà, tam bôi, tứ bình, ngũ quần anh.Trà chỉ thích hợp với nước tự nhiên thanh khiết. Nước pha trà ngon nhất là nước đọng trên lá sen, hay nước mưa hứng từ tàu cau. Người cầu kỳ pha nước giếng với nước mưa, gọi là nước âm dương.
 
Với các loại trà xanh thì  nước đun sôi sủi tăm, còn với trà tẩm hương thì đun ở độ sôi đầu nhang. Nếu không đủ sôi thì trà không phai, nếu sôi quá thì trà lại nồng. Trước khi pha trà thì dùng nước sôi để tráng chén và bình để làm nóng và vệ sinh cho sạch sẽ. Tuỳ theo độc ẩm, song ẩm, tứ ẩm, hay quần ẩm mà có những loại bình với kích cỡ khác nhau.
 
Lượng trà cho vào ấm phải vừa đủ  bởi cho ít quá thì nhạt, còn cho nhiều quá thì đắng chát. Từ từ rót nước sôi xâm xấp mặt trà rồi đổ đi để rửa trà. Tiếp theo cho nước gần đầy bình rồi đậy nắp lại, xong mới rót thêm lên trên nắp bình một ít nước nóng để lấp kín cái lỗ thông hơi để giữ được hương trà.
 
Việc rót trà ra chén cũng không đơn giản. Trà dưới ấm mới đậm, mới ngon. Cho nên khi tiếp khách, phải rót trà ra ra chén tống rồi sau đó mới chia ra các chén quân. Còn nếu rót thẳng vào chén quân thì người sành điệu sẽ không rót trà cho mình trước, nhưng cũng không rót cho khách trước, mà rót lần lượt ít một vào từng chén, rồi xoay vòng rót ngược lại. Như thế, các chén trà đều đậm đà như nhau. Khi rót thì thấp tay một chút cho dòng nước chảy vào chén.
 
Chén trà rót ra phải uống ngay cho nóng. Tay nâng ly trà, nhấp từng ngụm nhỏ, thưởng thức trà bằng tất cả tâm hồn, bằng những cảm xúc giác quan, mắt nhìn, mũi ngửi, tai nghe, lưỡi nếm, tay cầm. Ngụm thứ nhất chỉ vừa đủ để nếm ở đầu lưỡi và đồng thời ngửi hương thơm của trà, ngụm thứ hai uống một ngụm lớn gần hết chén trà đẩy cho trà tràn vào mọi ngóc ngách trong khoang miệng để cảm nhận hậu hương của trà, ngụm thứ ba uống hết chỗ còn lại nhằm kiểm lại tiền hương, tiền vị và kiểm thêm hậu vị của Trà. Từ chén trà thứ 2 mỗi người uống theo cách riêng của mình, từng ngụm nhỏ hay một ngụm lớn tùy thích sao cho thấy sảng khoái.
 
Cũng giống như những câu chuyện cổ tích dân gian luôn kết thúc có hậu chén trà Việt ban đầu cũng có vị đắng, chát nhưng sau đó là vị ngọt thanh cứ mãi lưu luyến ẩm khách bởi trà ngon, ắt phải có hậu ngọt.
 

Linh Vũ

Từ Khóa :