Những nữ thiên tài vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới (P2)



Những nữ thiên tài vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới (P2)

PV 13:30 7/3/2018

Trong suốt lịch sử, phụ nữ đã chiến đấu dũng mãnh và không mệt mỏi để khẳng định mình trong nhiều lĩnh vực thường dành lời ca ngợi cho nam giới. Nhiều đóng góp quan trọng, công trình nghiên cứu, phát hiện mang ý nghĩa to lớn của các nhà khoa học nữ đã khiến thế giới đã giúp thay đổi lịch sử nhân loại.

7. Nhà nhân chủng học Jane Goodall

Được xếp hạng nổi tiếng thứ 5.574 trên thế giới và thứ 7 trong danh sách những nhà khoa học nổi tiếng, nhà khoa học Jane Goodall (sinh năm 1934 tại London, Anh) là nhà nhân chủng học, linh trưởng học và chuyên gia hàng đầu thế giới nghiên cứu về tinh tinh.

Phần lớn cuộc đời, bà dành để nghiên cứu về tập tính sinh sống của tinh tinh ở Vườn quốc gia Gombe Stream, Tanzania. Nhờ những nghiên cứu sâu rộng của bà, người ta mới biết tinh tinh là loài ăn tạp, hiểu được tập tính sinh sống cũng như khả năng thiết kể, sử dụng công cụ của chúng.

8. Chuyên gia thần kinh học Rita Levi-Montalcini

Rita Levi-Montalcini (1909 – 2012) cũng là một trong những nhà khoa học nữ hiếm hoi được nhận giải Nobel khi đã ở tuổi ngoài “thất thập”.

Bà là chuyên gia về thần kinh học, nổi tiếng với các nghiên cứu bước ngoặt về hệ thần kinh. Vì là người Do Thái, nên trong Thế chiến thứ II, bà buộc phải nghỉ việc tại trường đại học, trốn về quê và tiếp tục công việc nghiên cứu, dựa trên phôi của gà.

Năm 1986, khi 77 tuổi, Rita Levi-Montalcini được nhận giải Nobel về các nghiên cứu cho phép hiểu cơ cấu tăng trưởng của tế bào và các bộ phận trong cơ thể người và động vật.

9. Nhà vật lý Chien-shiung Wu

Sinh ra tại Trung Quốc nhưng lớn lên ở Mỹ, nhà vật lý Chien-shiung Wu nổi tiếng vì tìm ra quá trình làm giàu uran.

Trong Thế chiến II, người Mỹ muốn bà Chien-shiung Wu tham gia chương trình nghiên cứu Manhattan nhằm mục đích thiết kế và chế tạo bom nguyên tử. Bà đã thành công tìm ra cách làm giàu uran để làm bom nguyên tử. Dù là người đầu tiên chứng minh lý thuyết bằng thực nghiệm, nhưng bà Chien-shiung Wu không được trao giải Nobel vì việc này. Sau đó, giải này lại được trao cho hai nhà khoa học khác.

10. Nhà vi khuẩn học Esther Lederberg

Esther Lederberg là nhà khoa học phát hiện ra rằng các vi khuẩn có thể có đột biến ngẫu nhiên, tăng đề kháng trước tác động của kháng sinh. Bà nghiên cứu về vi khuẩn và virus, tìm ra cách nghiên cứu quần thể vi khuẩn một cách dễ dàng. Vào năm 1951, bà tìm ra nhóm khuẩn lambda. Đến nay, nhóm khuẩn này vẫn được dùng làm mô hình mẫu trong công nghệ sinh học và sinh học phân tử.

11. Annie Easley: Trở thành nhà toán học khi từ bỏ giấc mơ y tá

Y tá là giấc mơ hồi nhỏ của Annie Easley. Nhưng sau khi đọc bài báo về hai chị em sinh đôi làm việc giỏi như máy tính ở Trung tâm nghiên cứu Không gian Hoa Kỳ (NASA) nên Annie Easley quyết định vào đó làm việc. Thời điểm các năm 50, người ta hay thuê phụ nữ làm các tính toán hết sức vất vả với độ chính xác và sức bền bỉ cao.

Khi bắt đầu làm việc tại NASA năm 1955, Annie Easley không có tấm bằng đại học nào, nhưng điều đó không ngăn cản bà trở thành nhà toán học, sau đó là nhà lập trình máy tính. Trong 34 năm làm việc, Annie đã viết ra các lệnh cho chương trình đo gió, năng lượng mặt trời, chuyển đổi năng lượng tối ưu và hệ thống dẫn đường cho các tên lửa.

12. Francoise Barre-Sinoussi: Nhà khoa học tìm ra HIV/AIDS

Nhờ có nhà khoa học người Pháp Francoise Barre-Sinoussi mà nhân loại mới biết được nguyên nhân gây ra bệnh AIDS.

Năm 1983, Francoise Barre-Sinoussi đã phát hiện virus HIV và chứng minh nó gây ra bệnh AIDS chỉ sau hai tuần làm việc. Sau phát hiện này, bà tiếp tục nghiên cứu phản ứng phòng vệ của cơ thể với HIV và AIDS trong hy vọng tìm ra thuốc chữa bệnh.

13. Nhà dược học Gertrude Elion

Năm 1988, nhà dược học người Mỹ Gertrude Elion (1918-1998) và Tiến sĩ George H Hitchings được trao giải Nobel Y học cho những khám phá liên quan đến điều trị bằng thuốc. Gertrude Elion đã phát triển một loại thuốc kháng retrovirus được sử dụng để điều trị bệnh AIDS, gọi là AZT.

Trong khoảng 40 năm làm việc cùng với George H Hitchings, bà Gertrude Elion cũng phát triển các loại thuốc điều trị bệnh sốt rét, bệnh bạch cầu và mụn rộp.

14. Nhà khoa học Patricia Bath

Năm 1942, nữ khoa học gia Patricia Bath phát minh ra một thiết bị laser có khả năng chữa bệnh đục giác mạc. Thiết bị này được đăng ký bản quyền phát minh vào năm 1988.

Trong nhiều năm liền, bà Patricia Bath được biết đến là một người hoạt động tích cực trong các hoạt động phòng và chống mù mắt. Bà còn là người đồng sáng lập ra Viện Phòng chống các bệnh gây mù, nhờ vậy các trẻ sơ sinh được nhỏ vitamin A.

15. Nhà sinh học Rosalind Franklin

Trong số những nhà khoa học nghiên cứu về sinh học, Rosalind Franklin (1920-1958) là một cái tên không thể nào quên. Những nghiên cứu của bà đóng vai trò rất quan trọng trong việc khám phá ra cấu trúc của DNA. Bà còn tạo ra những hình ảnh nhiễu xạ tia X của DNA, đặt điểm tựa giúp Watson và Crick tìm ra mô hình DNA xoắn kép sau này.

16. Nhà thiên văn học Payne-Gaposchkin Cecilia

Nhà thiên văn học người Anh Payne-Gaposchkin Cecilia là người có công lớn trong việc giúp giải thích cấu tạo của Mặt trời. Theo phát hiện của bà, Mặt trời chủ yếu gồm hydro và heli. Luận án tiến sỹ của bà được coi là bản công bố xuất sắc của một nhà thiên văn học nghiên cứu về mặt trời và các ngôi sao.


PV

Tổng hợp