Nhớ mùa Trung thu xưa đầm ấm, đầy kỷ niệm


Nhớ mùa Trung thu xưa đầm ấm, đầy kỷ niệm

Minh Phương 0:15 3/10/2017

Hễ đến mùa trăng tròn tháng 8 âm lịch hàng năm, người Việt Nam lại hướng về Tết Trung thu. Những câu chuyện cũ của Trung thu xưa, nhất là từ thời bao cấp nghèo khó, thiếu thốn lại được thế hệ 7X trở về trước lần giở, gợi nhắc với tâm thế hào hứng, hạnh phúc. Nhiều người cũng nao nao tiếc nuối vì những gì đẹp nhất trong ký ức tuổi thơ thiếu thốn của họ đã biến mất giữa nhịp sống công nghiệp hiện đại.

Thưa dần tiếng trống tùng rinh trên phố

Cùng với ánh nến lung linh, ấm áp tỏa ra từ vô vàn chiếc đèn lồng, tiếng trống tùng rinh rộn rã là điều không thể thiếu, tạo nên “linh hồn” cho những mùa Trung thu trong ký ức của nhiều thế hệ người Việt. Nhớ về Tết Trung thu cũng là nhớ về những điệu trống lân sôi động. Nhưng ngày nay, tiếng trống đang thưa dần, không còn không khí sôi nổi như những ngày xưa cũ.

Bà Phan Bạch Yến - người dân phường Hàng Đào (Hà Nội) - chia sẻ: Sống ở đây từ thời chống Pháp đến bây giờ, thời đại nào Tết Trung thu cũng mang màu sắc cổ truyền. Nhưng có một điều không thể chối cãi: Trung thu ngày nay đang dần phai nhạt.

Bà Phan Bạch Yến chia sẻ về ký ức Tết Trung thu Hà Nội

Bà Yến tâm sự: “Trước đây, Tết Trung thu làm ở ngoài đường, rất vui vẻ, phấn khởi. Các cháu cũng hào hứng phá cỗ, ăn bánh kẹo ngoài đường. Bây giờ Tết Trung thu bị thu hep trong phạm vi một cái đền hoặc mượn địa điểm nào đó để phát quà cho các cháu, cố gắng tạo cho ra không khí của Trung thu, nhưng cũng không ổn vì không có không gian”.

Không gian văn hóa Hanoia trong di tích đình Đồng Lạc ngập tràn sắc màu, phong vị của Tết Trung thu xưa. Ảnh: Hanoia

Những năm trở lại đây, người ta đang kéo truyền thống về với Tết Trung thu, với những mặt nạ, đèn lồng, đèn ông sao, trò chơi dân gian... Ảnh: Hoàng Hậu

Hoài niệm về trung thu xưa ở phố Hàng Đào và Hàng Mã, bà Yến cho biết: Càng gần ngày Tết Trung thu, không khí càng sôi động. Đặc biệt là từ mùng 10 âm lịch trở đi, tối đến vui lắm, lúc nào cũng rầm rộ trống phách, kéo dài đến hết đêm rằm. Nghe tiếng trống, bà Yến thấy phấn khởi, từng đoàn trẻ em cùng ùa ra phố rước đèn, đón Trung Thu, nhưng giờ đây không khí sôi động đó đang dần biết mất.

Làm việc trong ban công tác mặt trận phường, bà Yến thở dài: “Mọi khi chúng tôi mượn được đình Đồng Lạc và không gian ngoài đường để tổ chức Tết Trung thu cho các cháu, nhưng cũng rất hạn chế. Một năm tổ chức Trung thu cho các cháu được một lần mà không có không gian, chỉ phát cho mỗi cháu một gói quà, đoàn múa sư tử cũng không được vào. Điều đó khiến tôi thấy rất buồn”.

Mâm cỗ “kén rể”

Có từ cách đây hơn 2.000 năm, Tết Trung thu là ngày lễ lớn của các cư dân lúa nước ở phương Đông. Vào mùa trăng tròn thứ 8 của năm, khi vụ mùa đã thu hoạch xong xuôi, tại các làng quê Bắc Bộ, nông dân sẽ nghỉ ngơi để chuẩn bị cho vụ đông. Lúc này, họ sẽ có thời gian quây quần bên nha, cùng làm cỗ, sắm lễ dâng lên đấng trên, cảm tạ Trời Đất cho một năm may mắn, bội thu và chờ đón những đứa con ở xa trở về.

Khác với Tết Nguyên đán bày cỗ mặn, mâm cỗ của Tết Trung thu là cỗ ngọt, gồm bánh nướng, bánh dẻo và những loại hoa trái tươi ngon của mùa thu. Mâm cỗ xưa được bày biện, trang trí rất đẹp theo quan niệm âm dương, hài hòa, cân bằng.

Tái hiện mâm cỗ Trung thu của người Hà Nội xưa, nổi bật với những con giống nặng bằng bột

Một số phong tục đón Trung thu xưa như bày mâm lễ đón trăng, làm mặt nạ giấy bồi, kết đèn ông sao, nặn con giống bột... đã dần mai, thậm chí thất truyền. Hiện nay, về hình thức, người Hà Nội vẫn bày mâm quả, nhưng hầu hết là bắt chước nhau, thấy anh làm tôi cũng bắt chước làm, còn những phong vị xưa đã nhạt nhòa. Nhiều người còn chẳng biết cách bày sao cho đủ, cúng sao cho đúng.

Nhà văn Nguyễn Việt Hà, được mệnh danh là “Người kể chuyện của Hà Nội” cho biết: Xưa kia cỗ Trung thu thường cúng ở đình, đền, miếu hay chùa, chỉ những gia đình rất dư dật mới làm cỗ cúng gia tiên ở nhà. Cũng có người đợi đúng rằm, nhưng cũng có người cúng trước.

Nhà văn Nguyễn Việt Hà kể về Trung thu Hà Nội xưa

“Đã cúng trăng thì cấm tuyệt đối đàn ông vì đàn ông không được phép bái nguyệt. Bởi thế chỉ có phụ nữ làm. Theo những gì tôi đọc được và qua những câu chuyện của các cố lão, làm cỗ Trung thu thường là các cô gái thanh tân, tập trung vào những cỗ to lớn nhất” - anh Hà kể. Ngày xưa, cỗ bày to nhất chủ yếu vẫn ở Hàng Gai, Hàng Đào thì ít bày.

Trung thu Hà Nội xưa, người ta nườm nượp đi xem bày cỗ. Chỗ nào cỗ càng to, mâm bày càng khéo thì càng đông. Xưa kia nhà ông Bát Thiện trên phố Hàng Gai có hai cô con gái được mọi người nức nở khen vừa xinh, vừa khéo, bày cỗ trung thu đẹp nức tiếng.

Cỗ trung thu xưa của người Hà Nội được bày khéo lắm! Khéo đến nỗi có những mâm ngũ quả nặn bằng bột nếp giống như thật, dù cỗ làm không quá to. “Bây giờ có mấy thứ mình không thể làm cầu kỳ và bằng như trước”, anh Hà khẳng định. Khi nghĩ về ánh trăng rằm tuổi thơ, anh Hà vẫn nhớ “mâm cỗ Trung thu nặn bằng bột nếp với rất nhiều hình cầu kỳ như Quan Công, cá chép trông trăng, ông Lã Vọng câu cá và cả các loại hoa quả cây trái. Những con chó bông xù làm bằng bưởi bây giờ, so với trước chưa là gì cả”.  

Mâm cỗ trung thu xưa không chỉ thể hiện sự khéo léo, đảm đang của con gái phố hàng Hà Nội mà còn là dịp chắp nối cho những mối tình duyên kết thành trái ngọt. Anh Hà hóm hỉnh: “Trong đám đến xem cũng có người tới để ngó mặt cô thiếu nữ bày cỗ. Đa phần, qua 1-2 mùa trung thu, các cô gái ấy lấy được chồng”.

Trung thu thời bao cấp: nhạt, nhưng đáng nhớ

Chia sẻ về những ký ức Trung thu, nhà văn Nguyễn Việt Hà nói: Trung thu của lứa tuổi bọn tôi thời bao cấp rất “nhạt”. Những năm đó cực kỳ vất vả. Mọi người phải tần tảo để cố gắng bù lấp khó khăn. Bánh nướng, bánh dẻo xưa kia phải mua bằng tem phiếu, mà cũng chẳng có nhiều lựa chọn. Nổi tiếng chỉ có bánh nướng bà Dần ở phố Cầu Gỗ, nay đã dịch sang Hàng Bè. Người trung lưu, có tiền thì mua bánh nướng ở hiệu Tùng Liên khét tiếng Hàng Đường. Đấy là hiệu bánh nướng ngon nhất hồi đấy. Đông Hưng Viên cũng có bánh nướng ngon, khách xếp hàng đông đặc, nhưng là của người Hoa.

Dù vậy, Nhà văn Nguyễn Việt Hà vẫn cho rằng: Trung thu xưa vẫn có màu sắc tươi vui, rộn ràng. Hà Nội xưa có phong vị riêng là có phần đóng góp của người Hoa sống ở Việt Nam. Từ việc tạo nên đối trọng buôn bán, cạnh tranh thương mại lành mạnh với người Việt ở một số phố hàng, dần hình thành nên lõi văn hóa và kinh tế trong lòng phố cổ Hà Nội. 

Cùng cảm nhận đó, nhà điêu khắc Đinh Công Đạt tâm sự: “Đúng là ngày xưa, nói lại thì không nên thơ như các bạn nghĩ”. Anh Đạt kể ngày bé còn thấy người dân phố Hàng Gai bưng mâm cỗ Trung thu ra đường rồi múa sư tử quanh đó. Sau này, vì kinh tế khó khăn, các gia đình ở đó không làm nữa. Lễ Trung thu chuyển thành tiết mục để các phường thi với nhau, nhưng cũng lèo tèo. Cái mà trẻ con ngày đấy háo hức nhất về Tết Trung thu là đọ mâm cỗ, đọ đèn kéo quân, đèn ông sư... giữa các phường, các tổ phố. Phố Hàng Mã xưa kia cũng đơn sơ, chỉ có một đoạn ngắn và thực ra bày đồ cúng chứ không phải bán đồ chơi, mặt nạ cũng rất ít.

Trung thu thời bao cấp tuy “nhạt” vì thiếu thốn đủ bề, thiếu cả trò chơi lẫn chỗ chơi so với ngày nay, nhưng lại đáng nhớ, đáng để nhoẻn nụ cười hạnh phúc khi nghĩ đến là bởi những ký ức đặc biệt sinh ra từ một thời khốn khó. Từ thế hệ 7X trở về trước cùng lắm là tính thêm những người sinh ra vào những năm đầu thập niên 80 (thế kỷ XX), Trung thu là dịp thấy rõ nhất những thương yêu, chìu mến của ông bà, cha mẹ. Ở những làng quê Bắc Bộ, bố mẹ sẽ cùng con làm đồ chơi, kết đèn ông sao từ tre, làm đèn lồng bằng hộp xà phòng nhựa, vỏ lon..., phơi hạt bưởi từ một tháng trước để con có cái mà đốt vào đêm Trung thu lung linh, bập bùng ánh lửa. Đèn Trung thu ngày ấy “chạy” bằng nến, chứ chưa có đèn lồng pin điện như bây giờ.

Trong đêm rước đèn “soi” trăng, đoàn rước đi qua những con đường làng tối om, có đoạn đen như mực vì ánh trăng không thể xen qua những tán lá cây um tùm mà soi chiếu xuống mặt đất. Chỉ có ánh đèn lồng làm bạn. Ở thế hệ ấy, ai mà không có thời chia nhau từng mẩu nến, san cho nhau từng ánh lửa khi ngọn nến yếu ớt bị gió thu thổi tắt... Ký ức về trung thu, không phải về ngày được ăn một cái tết tươm tất, thịnh soạn mà là ký ức liên quan đến tình cảm, những dồn góp của bố mẹ, những thương yêu mình nhận được trong ngày lễ ấy.

“Trẻ chán trung thu là lỗi tại chúng ta”

Con trai lớn của tôi năm nay hơn 20 tuổi. Lúc 2-3 tuổi, tôi đưa con lên Hàng Mã chơi Trung thu và mua cho cháu cái trống bỏi. Về đến nhà, con đánh rơi trống lúc nào không biết, mặc dù lúc mua nó rất thích. Con cũng bần thần, cũng tiếc. Sáng hôm sau, hai bố con loay hoay gọt tre, làm chong chóng cùng nhau. Cái chong chóng đơn giản thôi, nhưng bằng cách nào đấy, con giấu diếm và giữ được đến lúc học lớp 1, về sau xây nhà thì bỏ đi. Vậy thì vấn đề không phải giá trị của món đồ chơi đâu.

Như đứa con thứ hai, mỗi lần tôi rủ nó đi chơi mà vào hàng đồ chơi là mặt nó dửng dưng. Việc chúng ta chơi cùng với con, chứ không phải đi mua đồ chơi cho con mới là quan trọng. Tết Trung thu cũng thế thôi. Tết Trung thu sẽ chết yểu, biến tướng hoặc thành quái thai vì làm sao: Vì chúng ta không chơi với trẻ.

Chúng ta đi làm, có tiền mua đồ chơi chứ không chơi với con nữa. Chúng ta sẽ đi mua cỗ về để bày chứ chúng ta không bày cỗ. Chúng ta không rủ trẻ đi sắm bưởi, sắm hồng, sắm chuối. Cái hay là ở từ sắm chứ không phải mua.

Thế hệ tôi và những thế hệ lớn tuổi hơn chỉ có thể nức nở, vang bóng một thời rồi sẽ qua đi, trẻ con sẽ bảo mấy ông già lẩm cẩm nói chuyện lăng nhăng. Chúng nó có thích đâu bởi vì chúng ta hiện nay cũng không thích, không muốn chơi với trẻ con, không xem cỗ Trung thu là điều gì đó đặc biệt. Bây giờ đến ngày rằm ra phố Hàng Bè, đầy xôi gấc, gà luộc ngậm hoa hồng cánh tiên... đủ hết cho một mâm cỗ. Chúng ta chỉ mua về, vài bước bày biện là xong, con về ăn là quý rồi. Việc Tết Trung thu mất đi những nét văn hóa đẹp là đương nhiên. Đấy là lỗi tại chúng ta. Chúng ta không có thời gian chơi Tết Trung thu cùng con trẻ, nhưng lướt facebook thì lúc nào cũng sẵn sàng.

(Nhà điêu khắc Đinh Công Đạt)


Minh Phương