Nghịch lý Startup Việt: Tinh thần, nhiệt huyết tỷ lệ nghịch với kết quả


Nghịch lý Startup Việt: Tinh thần, nhiệt huyết tỷ lệ nghịch với kết quả

Quang Huy 7:1 5/10/2017

Việt Nam đã vươn lên dẫn đầu thế giới về tinh thần khởi nghiệp và đứng thứ 2 về thái độ tích cực với khởi nghiệp. Kết quả này đã đưa Việt Nam trở thành hiện tượng khó lý giải khi mà tinh thần và nhiệt huyết khởi nghiệp lại chẳng thể đưa startup Việt cất cánh và vươn ra thế giới.

Cuộc khảo sát do Tập Đoàn Amway, Trường Đại học Technische Universitat Munchen (TUM) và Công ty Nghiên cứu Thị trường GfK phối hợp thực hiện với 50.861 người từ 14 tuổi trở lên tại 45 quốc gia trên thế giới. Theo đó, Việt Nam đứng đầu thế giới về chỉ số tinh thần khởi nghiệp và đứng thứ 2 về thái độ tích cực đối với Khởi nghiệp.

Cụ thể: 91% người Việt tham gia khảo sát cho biết họ xem chuyện bắt đầu công việc kinh doanh mới như cơ hội nghề nghiệp đáng mơ ước. 95% có thái độ tích cực với tinh thần khởi nghiệp, làm chủ, cao hơn mức trung bình 77% của thế giới. 96% người Việt cảm thấy thoải mái với việc tìm kiếm và thu hút khách hàng tiềm năng. 76% muốn khởi nghiệp để được độc lập và tự chủ trong kinh doanh. Trước đó, khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cũng chỉ ra rằng: Việt Nam có tỷ lệ khởi nghiệp cao hơn các quốc gia khởi nghiệp hàng đầu châu Á là Trung Quốc, Ấn Độ trên phương diện mật độ các công ty khởi nghiệp trên đầu người.

Startup để kiếm tiền, được tư do làm điều mình thích là quan niệm sai lầm

Tuy nhiên, điều khiến giới phân tích khó hiểu là trong khi người Việt có tinh thần và nhiệt huyết khởi nghiệp ngút ngàn thì Việt Nam vẫn vô danh trên bản đồ startup thế giới. Không có trên trong TOP 10 thành phố khởi nghiệp thế giới đã đành, các trung tâm khởi nghiệp của Việt Nam như Hà Nội, TPHCM cũng vắng bóng trong danh sách các thành phố khởi nghiệp tiềm năng. Trong khi đó, châu Á có rất nhiều thành phố góp mặt trong hai danh sách này là Bắc Kinh, Seoul, Thượng Hải, Singapore...

Các chỉ số đánh giá khác cũng chẳng mấy khả quan. Chỉ số đối mới sáng tạo trong hoạt động khởi nghiệp của startup Việt chỉ đạt 16,5%. 100% startup Việt thành công học hỏi từ mô hình nước ngoài mà không có ý tưởng riêng. 80% startup không có cơ hội được mừng sinh nhật lần thứ 2. Chỉ có 3% startup Việt được đánh giá là thành công. 97% không phải là nhà khởi nghiệp... Thậm chí, số startup được thế giới biết đến chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Monkey Junior là một trong những startup Việt hiếm hoi được thế giới biết đến

Thực ra, việc startup thất bại không phải là chuyện quá nghiêm trọng. Bởi trên thế giới, tỷ lệ sống sót của startup cũng chỉ là 10%. Song, điều nguy hiểm là nhiều startup Việt lao vào “khởi nghiệp” chỉ với niềm tin và nhiệt huyết để rồi khi thất bại vẫn không hiểu tại sao vì cho rằng đã áp dụng “đúng chuẩn” những mô hình khởi nghiệp thành công từng được diễn giải trong các diễn đàn khởi nghiệp!?

Lý giải về hiện tượng này, giới phân tích cho rằng: Không ít nhà khởi nghiệp Việt bị niềm say mê với những ý tưởng của bản thân cuốn đi mà quên rằng tính thiết thực của sản phẩm với thị trường và sức cạnh tranh khả dĩ của nó mới giữ vai trò quyết định. Họ cũng chưa thật sự chú trọng đến việc phải tạo ra sản phẩm thật sự ấn tượng với độ hoàn thiện cao. Trong khi đó, mục tiêu lớn nhất cần hướng đến là lợi nhuận. Để có được điều đó, sản phẩm, dịch vụ phải được thị trường đón nhận. Bằng không chẳng lấy đâu ra tiền để tiếp tục đầu tư phát triển startup cho giai đoạn kế tiếp. Dĩ nhiên, các nhà đầu tư cũng chẳng dại rót vốn cho những startup như thế. Điều đó đã phần nào lý giải vì sao các startup Việt gặp rất nhiều khó khăn trong việc gọi vốn.

Bên cạnh đó, cách tuyên truyền về phong trào khởi nghiệp đang khiến nhiều người lầm tưởng rằng có con đường chung để startup thành công. Trong đó, việc tung hô các startup kỳ lân và siêu kỳ lân, các nhân vật “tuổi trẻ, tài cao” cùng lời khuyên chỉ cần làm đúng những việc họ làm là có được thành công như vậy đã tạo ra tâm lý ảo tưởng cho không ít người. Trong khi trên thực tế, chẳng con đường thiết kế sẵn nào có thể mở ra thành công cho tất cả mọi người.

Chính niềm tin quá đà đã thổi bùng  nhiệt huyết khởi nghiệp cho không ít startup Việt. Thế là họ hăng thái tham gia phong trào khởi nghiệp chỉ với ý tưởng mơ hồ, mang nặng “cảm tính” mà không biết rằng để khởi nghiệp thành công còn cần đến nhiều yếu tố mang tính “kỹ thuật”. Nặng cảm tính và chấp nhận rủi ro một cách cực đoan khi bước vào hành trình startup khiến nhiều người mất hết niềm tin cùng gánh nợ nần khi khởi nghiệp thất bại.

Trong khi đó, ở những nước có thị trường startup phát triển, bên cạnh hệ sinh thái tài trợ, nhân tài kỹ thuật công nghệ, tư vấn tích cực, văn hóa startup, hạ tầng chính sách và pháp lý, nền tảng kinh tế và các chương trình, chính sách của chính phủ mà Việt Nam đều yếu và thiếu, hạ tầng công nghệ và tư duy nhạy bén với nhu cầu của xã hội góp phần không nhỏ vào thành công của các nhà khởi nghiệp. Điều đó lý giải vì sao khi số đông nhà khởi nghiệp ở các quốc gia này nói về hành trình khởi nghiệp đều cho thấy cách họ phát triển sản phẩm, dịch vụ rất bài bản.

Để có được điều đó, tư duy và phương pháp phát triển sản phẩm, dịch vụ được giảng dạy nhiều trường đại học ở Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc… trong các khoa kinh doanh, kỹ thuật và quản lý. Không những thế, ở Mỹ, lớp học có tên 2.009 ra đời để giảng dạy cho sinh viên năm thứ 2 của Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT). Lớp học được tổ chức như cuộc thi phát triển sản phẩm mới. Sau khi chia thành nhiều nhóm, các học viên được tạo cơ hội tự sáng tạo và phát triển sản phẩm để giải quyết những vấn đề từng gặp phải hoặc xã hội đang có nhu cầu. Song, họ chỉ được chọn duy nhất một ý tưởng. 

Để giúp họ có được sự lựa chọn đúng đắn, các phương pháp sàng lọc và đánh giá ý tưởng được đưa vào khoá học. Sau khi ý tưởng về sản phẩm được chọn, sinh viên sẽ được hướng dẫn chi tiết để hiện thực hoá và tối ưu hóa sản phẩm. Với việc tổ chức khoá học theo mô hình mở, ngoài kiến thức về phương pháp khoa học, sinh viên còn được trang bị thêm kỹ năng mềm về làm việc nhóm và thuyết trình. Nhờ đó, sau khi tốt nghiệp, họ có thể vận dụng những kiến thức và kỹ năng đã học để tạo ra sản phẩm mới hoặc theo đuổi startup riêng. Hơn thế, việc tiếp cận sớm quy trình và phương pháp khoa học giúp họ có được tư duy chiến lược. Từ đó, họ có thể nhận biết khó khăn và lợi thế, những nguồn lực sẵn có để định hình sản phẩm làm ra sao cho có thể đáp ứng nhu cầu xã hội.

Đó là điều mà đa số nhà khởi nghiệp Việt chưa có được ở thời điểm hiện tại. Điều đó lý giải vì sao startup Việt chưa thể cất cánh, cho dù tinh thần và nhiệt thuyết khởi nghiệp luôn có thừa.


Quang Huy