Nam giới cũng có lúc yếu đuối hơn chúng ta nghĩ



Nam giới cũng có lúc yếu đuối hơn chúng ta nghĩ

PV 15:48 13/9/2018

Nếu một ngày nào đó, các bà mẹ, bà vợ, bạn gái của những đấng mày râu thấy con cái, bạn đời và người yêu của mình có những biểu hiện lạ, bất ổn về mặt tâm lý, đừng quá lo lắng bởi, xã hội ngày càng phát triển, sự bình đẳng giới đang rút bớt gánh nặng trên các đấng nam nhi. Đó là lúc đàn ông không cần giữ mãi vỏ bọc mạnh mẽ và bản lĩnh.

Ảnh VTV

1. Rối loạn lo âu (GAD)

Đặc điểm nhận biết:

Với những người mắc hội chứng rối loạn lo âu toàn thể, thường bị xuất hiện cảm xúc lo lắng và căng thẳng cực độ, mặc dù trên thực tế không có chuyện gì quá bất thường xảy ra. Họ thường xuyên dự đoán các sự kiện bất trắc và quan tâm một cách thái quá đến các vấn đề sức khỏe, tiền bạc, gia đình, hoặc những vướng mắc trong công việc… Người bị rối loạn lo âu thậm chí có thể lo lắng đến mức không thể tập trung làm việc, làm hỏng các mối quan hệ xã hội hoặc ngay cả việc thực hiện các hoạt động đơn giản hàng ngày.

Rối loạn lo âu toàn thể là vấn đề tâm lý tương đối phổ biến – ảnh hưởng 3-4% dân số toàn cầu (khoảng hơn 240 triệu người). Thường xuyên đặt ra những giả thiết “Nếu… thì…” là đặc điểm của những người bị rối loạn lo âu. Kết quả là, người bệnh cảm thấy không có cách nào thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn của sự lo lắng, và sau đó trở nên chán nản với cuộc sống và thực trạng của bản thân.

Nguyên nhân gây ra rối loạn tâm lý đến nay vẫn chưa được xác định cụ thể, thông thường sẽ đến từ cả hai yếu tố sinh lý và tâm lý. Nhưng yếu tố di truyền vẫn phổ biến hơn. Một câu chuyện đau buồn hoặc quá căng thẳng trong quá khứ cũng có thể gây ra GAD. Nhiều giả thuyết cho rằng, người có GAD đang có mâu thuẫn nội tại mà chính họ không giải quyết được. GAD có thể bắt đầu từ thời thơ ấu hoặc muộn hơn một chút.

Cách điều trị:

Sử dụng liệu pháp tâm lý trị liệu hoặc sử dụng các loại thuốc đặc trị là 2 giải pháp chính đối với rối loạn lo âu. Các loại thuốc như alprazolam (Xanax), chlordiazepoxide (Librium), clonazepam (Klonopin) thường được dùng để giảm căng thẳng và điều hóa tâm lý cho người bệnh. Tuy nhiên, các loại thuốc này được khuyến cáo không được sử dụng kéo dài bởi vì có thể dẫn đến lệ thuộc và khi ngừng dùng thuốc, các triệu chứng dễ bị tái phát trở lại.

Không nên tự ý mua và sử dụng thuốc khi không có chỉ định của bác sĩ chuyên môn bởi sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.

2. Rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD):

Đặc điểm nhận biết:

OCD là một vấn đề tâm lý quen thuộc đối với đàn ông. Rối loạn ám ảnh cưỡng chế (Obsessive-Compulsive Disorder – OCD) là một rối loạn tâm lý mãn tính mà dấu hiệu phổ biến chính là ý nghĩ ám ảnh, lo lắng không có lý do chính đáng và phải thực hiện các hành vi có tính chất ép buộc để giảm bớt căng thẳng.

Biểu hiện của OCD khá phức tạp, vì bao gồm hai yếu tố: suy nghĩ ám ảnh và hành động cưỡng chế. Suy nghĩ ám ảnh là những nỗi sợ và những ý nghĩ vô nghĩa cứ lặp đi lặp lại trong đầu người bệnh, đôi lúc có yếu tố hoang tưởng.

Các ám ảnh phổ biến nhất: Sợ bị bẩn; Sợ gây tổn hại tới người khác; Sợ mắc sai lầm; Sợ hành vi của mình không được chấp nhận; Đòi hỏi tính cân đối và chính xác; Nghi ngờ quá mức. Từ những suy nghĩ ám ảnh sẽ dẫn đến những hành động cưỡng chế của người bệnh để chống lại những lo lắng này : Lau chùi và giặt giũ; Kiểm tra; Sắp xếp; Sưu tầm và tích trữ; Hạn chế giao tiếp với người khác …

Nguyên nhân của OCD chủ yếu đến từ tình trạng thiếu hụt chất serotonin trong não. Ngoài ra, các yếu tố di truyền, tập quán được nuôi dạy và môi trường sống cũng ảnh hưởng ít nhiều. Rối loạn ám ảnh cưỡng chế có những biểu hiện phức tạp, khó được chẩn đoán và dễ bị nhầm lẫn, tích hợp với những hội chứng khác.

Phương án điều trị:

Phương pháp trị liệu hành vi thường được sử dụng với những bệnh nhân OCD. Tạo ra nhiều tình huống để người bệnh sống chung hoặc phải đối diện với những nỗi ám ảnh tâm lý của mình là nền tảng cơ bản của phương pháp điều trị này. Điều trị được tiến hành từng bước theo khả năng kiểm soát lo âu và hành vi cưỡng chế của bệnh nhân. Dù OCD là bệnh có thể tự điều trị và kiểm soát nhưng người bệnh được khuyến khích đến gặp chuyên gia tư vấn tâm lý để có những biện pháp trị liệu phù hợp.

3. Rối loạn lưỡng cực (hưng cảm)

Đặc điểm nhận biết:

Triệu chứng hưng cảm hoàn toàn đối lập với trầm cảm. Đó là trạng thái hưng phấn, dễ bị kích động, nổi bật là sự hưng phấn về cảm xúc, dễ đưa bệnh nhân đến tình trạng suy kiệt vì hoạt động nhiều, trong khi lại mất ngủ và ăn kém do suy giảm các nhu cầu này. Trong giai đoạn hưng cảm, bệnh nhân nhìn cuộc sống xung quanh thấy vui tươi, sáng sủa, đầy thú vị (đa phần là hoang tưởng). Họ hầu như không lo lắng về cuộc sống, luôn lạc quan về tiền đồ.

Thực chất những bệnh nhân rối loạn lưỡng cực luôn có tâm lý bất ổn.

Rối loạn lưỡng cực là vấn đề tâm lý bẩm sinh và có nguy cơ kéo dài đến cuối đời. tại Mỹ có khoảng 2-4% dân số mắc bệnh rối loạn lưỡng cực. Rối loạn lưỡng cực khiến cho người bệnh gặp khó khăn trong giao tiếp. Tỉ lệ thất nghiệp cao, khó khăn trong quá trình làm việc, chất lượng cuộc sống thấp và căng thẳng trong các mối quan hệ cao. Đây còn là triệu chứng tâm lý sẽ khiến người bệnh phải trả chi phí đắt đỏ nhất. Nguy cơ dẫn đến tự tử ở những người mắc chứng rối loạn lưỡng cực khá cao, ở mức 6% trong vòng 20 năm trở lại đây. Tỉ lệ tự hủy hoại, hành hạ bản thân còn đáng lo ngại hơn với 30- 40% những ca có biểu hiện tương tự.

Những nhân vật nổi tiếng như: Van Gogh, Winston Churchill … từng được cho là mắc chứng rối loạn lưỡng cực.

Phương án điều trị:

Vấn đề của rối loạn lưỡng cực có thể đi theo người bệnh đến cuối đời. Đây được nhận định là một trong những bệnh tâm lý lifetime, hiện vẫn chưa có cách nào điều trị dứt điểm.

Lithium, Divalproex Sodium và Carbamazepine đã chính thức được chỉ định trong điều trị rối loạn lưỡng cực từ vài thập kỷ nay. Tuy nhiên các loại thuốc này chỉ có tác dụng kiểm soát và ổn định tâm trạng bệnh nhân tạm thời chứ không có hiệu quả chữa khỏi bệnh. Bên cạnh đó, liều lượng thuốc và sự kết hợp của các phương pháp điều trị vẫn chưa có sự thống nhất. Các loại thuốc điều trị rối loạn lưỡng cực cũng gây ra nhiều tác dụng phụ nhất định với cơ thể.

4. Trầm cảm:

Đặc điểm nhận biết:

Trầm cảm là một vấn đề tâm lý ngày càng phổ biến trong xã hội hiện nay. Nhưng với nam giới, trầm cảm có vẻ nghiêm trọng hơn.

Trầm cảm không nằm ở những biểu hiện bên ngoài. Chính những người trầm cảm cũng có thể là những người hoạt bát, năng động nhất ngoài cuộc sống, luôn là tâm điểm của những đám đông, biết cách động viên người khác. Nhưng trong sâu thẳm, họ vẫn có những tâm sự thầm kín. Họ không có bất kỳ lối thoát hay chút hi vọng nào cho tất cả mọi chuyện. Họ cũng không cố gắng chia sẻ, than vãn hay tìm cách giải thoát bản thân khỏi những tuyệt vọng mình đang trải qua. Điều đáng sợ nhất đó là chính những người trầm cảm lại cảm thấy an toàn trong chính tình trạng này.

Phương án điều trị:

Có đến 90% bệnh nhân trầm cảm không chịu hay thậm chí không nghĩ đến việc điều trị. Giải pháp đầu tiên đối với những người trầm cảm có lẽ là bạn phải muốn thoát khỏi căn bệnh này. Sự quan tâm, thường xuyên chia sẻ của những người thân xung quanh sẽ góp một phần lớn giúp cho những người trầm cảm. Ngoài ra nếu tình trạng bệnh kéo dài thì rất cần thiết đến gặp bác sĩ.

Ngoài những vấn đề tâm lý thường gặp phải trên đây, bệnh ung thư Tiền liệt tuyến cũng rất được quan tâm ở nam giới, do những đặc thù và tính chất nguy hiểm của nó.

Đây là loại bệnh chỉ xuất hiện ở nam giới. Tuyến tiền liệt là hạch nhỏ nằm dưới bọng đái gần ruột già. Nó bao quanh niệu đạo, tức ống dẫn nằm bên trong dương vật qua đó nước tiểu và tinh dịch thoát ra. Hạch tuyến tiền liệt là thành phần của hệ thống sinh sản ở nam giới. Nó sản xuất phần lớn chất nhờn tạo tinh dịch nuôi dưỡng tinh trùng.

Tuyến tiền liệt có kích thước bằng hạt dẻ và thường phát triển khi theo số tuổi của người đàn ông. Đôi khi điều này có thể gây ra vấn đề như đi tiểu khó khăn. Những vấn đề này thường gặp ở người lớn tuổi và không phải lúc nào cũng là triệu chứng hay dấu hiệu của ung thư.

Bệnh ung thư tuyến tiền liệt khá nguy hiểm, thường xuất hiện ở nam giới độ tuổi trên 50. Tuy phát triển chậm nhưng bệnh có thể di căn lan sang các khu vực khác, đặc biệt là vào xương và các hạch bạch huyết. Ở giai đoạn đầu ung thư chưa có dấu hiệu đáng kể, nhưng khi đến các giai đoạn cuối xuất hiện các triệu chứng như tiểu ngắt quãng, tiểu ra máu, đau khi đi tiểu,…

Thông thường ở giai đoạn đầu ung thư tuyến tiền liệt hầu như không có triệu chứng. Nó chỉ được phát hiện khi khám chuyên sâu. Đôi khi ung thư tuyến tiền liệt gây ra những triệu chứng tương tự như các bệnh khác, ví dụ như bệnh tăng sản tuyến tiền liệt lành tính. Các triệu chứng bao gồm đi tiểu thường xuyên, đi tiểu đêm, khó tiểu hoặc tiểu ngắt quãng, tiểu ra máu, đau mỗi khi tiểu.

Do tuyến tiền liệt bao quanh phần niệu đạo nên người mắc chứng ung thư tuyến tiền liệt có thể làm rối loạn các chức năng tiết niệu. Tuyến tiền liệt cũng tiết chất dịch tạo thành tinh dịch theo ống dẫn tinh vào niệu đạo cho nên ung thư tuyến tiền liệt cũng có thể gây ra rối loạn các chức năng và hoạt động tình dục, chẳng hạn như khó đạt được sự cương cứng hoặc đau khi xuất tinh.

Ở các giai đoạn sau của bệnh, khi đó ung thư đã di căn sang các bộ phận khác của cơ thể và gây ra các triệu chứng khác. Những triệu chứng thường gặp nhất là: đau xương, thường ở các đốt sống (xương cột sống), xương chậu, hay xương sườn. Bệnh còn có thể di căn sang các xương khác thường là phần xương đầu của xương đùi. Ung thư tuyến tiền liệt di căn vào cột sống cũng có thể đè lên tủy sống gây ra yếu chân và đại tiện, tiểu tiện không tự chủ.

Những triệu chứng của ung thư tuyến tiền liệt bao gồm: Cảm thấy mắc tiểu thường xuyên hay bất thình lình; Thấy tiểu tiện khó khăn (thí dụ khó tiểu khi bắt đầu hay không tiểu được khi mắc tiểu hay nước tiểu chảy ra yếu); Khó chịu khi đi tiểu; Thấy có máu trong nước tiểu hay tinh dịch; Đau ngang thắt lưng, bắp vế hay hai bên hông.

Những phương pháp nhằm phát hiện ung thư tuyến tiền liệt:

Phương pháp thử Kháng nguyên Đặc hiệu Tuyến tiền liệt (Prostate Specific Antigen) Kết quả sẽ cho thấy có sự gia tăng nào trong chất đạm đặc hiệu này hay không. Một kết quả thử PSA cao không nhất thiết là bị ung thư. Các bệnh khác của tuyến tiền liệt ngoài ung thư cũng có thể gây ra mức PSA cao hơn bình thường.

Khám trực tràng bằng ngón tay (Digital Rectal Examination (DRE): do vị trí của tuyến tiền liệt, bác sĩ khám trực tràng bằng ngón tay có mang găng và bôi trơn để kiểm tra kích thước của tuyến tiền liệt và đánh giá xem có bất thường nào không. Một kết quả DRE bình thường không loại trừ khả năng có ung thư tuyến tiền liệt.

Để góp phần giảm thiểu nguy cơ bị mắc ung thư tuyến tiền liệt, cần có chế độ ăn uống hợp lí. Cần ăn các bữa ăn đầy đủ chất dinh dưỡng và thường xuyên tập thể dục, tối thiểu là 30 phút/ ngày, cũng như thường xuyên thăm khám định kì để kịp thời khắc phục, điều trị.


PV