Mẹ tôi - chuyện về những người phụ nữ phi thường



Mẹ tôi - chuyện về những người phụ nữ phi thường

Lan Phương 15:58 10/1/2018

Giản dị, khiêm nhường, “Mẹ tôi” - Câu chuyện về người mẹ trong những gia đình trí thức nổi tiếng thế kỉ XX tập hợp các bài viết của chính những người con ruột trong gia đình các trí thức, nhân sĩ nổi tiếng thể kỉ XX viết về người mẹ của mình - những người ở hậu phương thầm lặng hy sinh góp phần không nhỏ vào thành công của đức lang quân.

Đó là những người mẹ nông dân chân chất, nhân hậu, tảo tần vun vén trong gia đình của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh, học giả Phan Khôi, nhà sử học Trần Huy Liệu, GS Đặng Thai Mai. Nhờ có mẹ Tống Thị Trừng động viên và quyết lo cho con gái được học hành mà nhà văn Nguyệt Tú - con gái của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh - được đi học đầy đủ, vì mẹ tuy không được học hành nhưng luôn quan niệm “con trai hay con gái, đứa nào học được, cứ cho học”.

Những năm tháng nhà sử học Trần Huy Liệu làm cách mạng, một mình mẹ Nguyễn Thị Tý lo toan, duy trì gia đình đông miệng ăn mà như cách nghĩ của nhà văn Trần Chiến rằng: “Không có bà thì liệu có nhà cách mạng Trần Huy Liệu? Bố tôi có yên lòng bỏ lũ con lít nhít đâu đó, cho ai đấy, để ra đi làm những việc thỏa mãn lòng yêu nước của mình? Khó hình dung lắm.”

Còn những người con trong gia đình GS Đặng Thai Mai từ bé đã được nuôi nấng trong vòng tay dịu dàng của mẹ, trong những câu ca dao tục ngữ, câu Kiều mẹ Hồ Thị Toan hay ngâm. Học giả Phan Khôi có hai người vợ, và các con Phan Thị Mỹ Khanh và Phan An Sa đã viết về hai người: Mạ tôi và Mẹ tôi với một niềm biết ơn sâu sắc với những công lao trời bể của các mẹ đã nuôi nấng con cái trong suốt những năm tháng vô cùng vất vả khi cha làm báo xa nhà, về cuối đời phải chịu thiệt thòi và bị rơi vào quên lãng đến nửa thế kỷ.

Đó là những người mẹ trí thức giỏi việc nước đảm việc nhà vừa hoạt động cách mạng vừa làm tốt vai trò của một người vợ, người mẹ trong gia đình GS Đào Duy Anh, GS Vũ Ngọc Phan, GS Nguyễn Xiển, GS Đặng Văn Ngữ. Mẹ Nguyễn Thúy An (vợ của GS Nguyễn Xiển) là người phụ nữ đa tài, và kỳ tài ở khả năng nữ công gia chánh (bà cùng nữ sĩ Vân Đài viết cuốn sách nấu ăn đầu tiên ở Việt Nam), và biết áp dụng linh hoạt trong thời chiến: “Ngày gia đình tản cư, mẹ chỉ huy anh, chị em tôi nuôi dê, gà, phơi măng và sấy chuối, tăng gia theo mùa vụ. Thế mà mẹ vẫn còn biết cất nước hoa từ hoa bưởi (do năm ấy hoa bưởi nở thật nhiều) hay khi mọi người bắn hạ được con trăn to vừa nuốt xong chú dê của gia đình, mẹ lập tức chế thịt trăn thành thứ ruốc bông có chất lượng và rán mỡ trăn rồi để dành làm thuốc chữa bỏng, thỉnh thoảng lại giúp người dân quanh đó nếu có người bị bỏng…”

Mẹ Trần Thị Như Mân, vợ của GS Đào Duy Anh, đã hoạt động nhiệt huyết trong Học hội nữ công: “Thật không tưởng tượng rằng một người phụ nữ nhỏ bé, con nhà quan lại cao cấp lại có một nghị lực phi thường làm đủ mọi nghề nghiệp từ chân tay đến trí óc, có một óc kinh doanh năng động, việc nào cũng hoàn thành một cách xuất sắc.” Bà Tôn Nữ Thị Cung, vợ của GS Đặng Văn Ngữ, là cán bộ phòng bào chế thuốc kháng sinh Penicilline tại Việt Bắc, mà khi nghe tin bà qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư chia buồn, thương tiếc một con người “chăm chỉ, thành thật và tiến bộ”.

Nhắc đến các nhà trí thức nổi tiếng thế kỉ XX không thể không nhắc đến công lao của những người phụ nữ - những người vợ, người mẹ đã dành cả cuộc đời mình chăm lo vun vén cho gia đình, cho đất nước. Các mẹ Lương Thị Tuệ, Nguyễn Thị Huệ, Nguyễn Thị Nhân Lý, Nguyễn Thị Mão, Tống Thị Trừng, Nguyễn Thị Tý, Nguyễn Thị Hy, Hồ Thị Toan, Hằng Phương, Trần Thị Như Mân, Nguyễn Thúy An, Tôn Nữ Thị Cung là những người mẹ Việt Nam, họ cùng chồng san sẻ vất vả trong những năm tháng gian khó, song không quên giáo dục con cái nên người, đặc biệt chú trọng dạy con gìn giữ văn hóa Việt.

Những bức chân dung về các mẹ do chính con cái trong gia đình viết nên đầy chân thực mà lay động lòng người. Đặc biệt, những người con trong gia đình lại là những nhà trí thức, nhà văn, nhà báo có tên tuổi, nên cách viết của họ rất hấp dẫn, sống động. Bức tượng đài huyền thoại mẹ như thước phim quay chậm để người đọc vừa cảm nhận, vừa hình dung về không khí thời đại và về những người Mẹ Việt Nam.

Mẹ tôi - Câu chuyện về người mẹ trong những gia đình trí thức nổi tiếng thế kỉ XX do Nhà xuất bản Phụ nữ phát hành trên toàn quốc. Tác phẩm là tập hợp chuyện của các tác giả:

- Phan Thị Mỹ Khanh, Phan An Sa là các con của học giả Phan Khôi

- Phan Kế An là con trai của nguyên Phó Thủ tướng Phan Kế Toại

- Nguyệt Tú là con gái của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh

- Trần Chiến là con trai của nhà sử học Trần Huy Liệu

- Đặng Xuyến Như là con gái của GS Đặng Thai Mai

- Vũ Triệu Mân là con trai của nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan và nhà thơ Hằng Phương

- Đào Thế Tuấn là con trai của GS Đào Duy Anh

- Nguyễn Lưu là con trai của GS Nguyễn Xiển

- Đặng Nhật Minh là con trai của GS- Bác sĩ Đặng Văn Ngữ.

Trích đoạn trong tác phẩm:

“Tôi không được chứng kiến, chỉ nhớ hồi độ mười tuổi, thấy xung quanh sôi réo chuyện phá đình chùa bỏ tượng trôi sông, bà lẩm bẩm “Không biết sợ cái gì thì sẽ ác lắm đây”… Đối với mấy anh chị em cùng mẹ, chúng tôi thương yêu, nhường nhịn nhau, không tranh giành tham lợi, và khi ra ngoài cũng thật ít ham hố; đấy là cái “đức”  bà để lại, lắm khi làm con cái thiệt thòi vì ngại va chạm. Một nét nữa tôi cũng nhớ là tuy không giỏi bươn chải, bà lại rộng rãi, thích nấu nướng rồi nhìn con em kéo bạn bè đến ăn, niềm vui phải trả giá không ít thời tem phiếu ngặt nghèo.

(Hai bà rưỡi - Trần Chiến)

“Cố chỉ nuôi mẹ chứ không đủ tiền cho đi học. Mãi đến lúc lấy cha tôi, mẹ mới học chữ quốc ngữ. Tôi nhớ mãi chuyện mẹ tôi tập viết bằng mấy câu thơ “Kiều” lúc cha tôi mới ra Hà Nội học trường Cao đẳng Mỹ Thuật Đông Dương:

‘Gìn vàng giữ ngọc cho hay

Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời.

Mẹ tôi không được đi học, không hiểu nhiều về đam mê hội họa của cha tôi nhưng vẫn động viên ông bỏ nghề giáo viên ở Huế để ra Hà Nội học vẽ. Suốt năm năm cha tôi học Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, mẹ tôi thay chồng nuôi mẹ, nuôi con.

(Mẹ tôi - Nguyệt Tú)

“Nhớ mẹ, chúng tôi hay nhớ đến lối chơi hoa vào ngày Tết của người Hà Nội. Ngày ấy, người Hà Nội trông chờ vào nguồn hoa đào nở từ Nhật Tân, quất từ Ngọc Hà và ít hơn là ở Quảng Bá, Nghi Tàm. Cuộc thi hoa được tổ chức tại trụ sở Hội Khai Trí Tiến Đức bên bờ Hồ Gươm, thu hút rất đông người xem, nhất là đám công chức, giới trung lưu và nhiều du khách ngoại quốc, chủ yếu là người Pháp. Và lần ấy, nhiều bậc thức giả Hà thành phải thốt lên “Hoa thế mới là hoa!”.

Mẹ khéo tay cực kỳ. Đã có nhiều bài báo đề cập kiểu cách tỉa hoa của Bà Xiển, duy ít có người biết mẹ chơi hoa thủy tiên như thế nào. Cũng năm 1960, nghệ sỹ nhiếp ảnh Võ An Ninh tìm tới nhà tôi và chụp bức ảnh mẹ ngồi cạnh bình thuỷ tiên do đích thân mẹ hãm để nở đúng vào rạng sáng ngày mùng một Tết. Bây giờ, người ta thấy hoa thuỷ tiên để trong những bát sứ tựa như tô phở, trên mặt là những nhành hoa mà không hiểu thủy tiên nghĩa là tiên dưới nước và chơi hoa này chính là để thưởng thức bộ rễ dài của hoa, bình thủy tiên đúng kiểu bằng thủy tinh và cao cỡ 50-60  cm, na ná những bình ngâm rượu rắn, bên trong là bộ rễ trắng muốt thả dài suốt thân bình và được xem là hình ảnh nàng tiên dưới biển. Và cứ vào dịp Trung thu, mẹ lại được nhiều người nhớ đến ngày Trung thu đầu tiên sau Cách mạng, mẹ đã xắn tay và dùng vài trăm quả bưởi để làm ra chú chó bông khổng lồ để ở Ấu Trĩ viên và cả ông Lã Vọng với nhiều thứ bánh, mứt, sau này có lần Bác Tôn đến thăm các cháu thiếu niên nhi đồng Hà Nội dịp Trung thu đã hỏi thăm mẹ về kĩ năng ấy…”

(Mẹ tôi - Nguyễn Lưu)


Lan Phương