Lý Thường Kiệt- Một danh tướng trí dũng song toàn



Lý Thường Kiệt- Một danh tướng trí dũng song toàn

Ngân Hà 0:34 17/1/2013

Lý Thường Kiệt vị anh hùng dân tộc, một nhà ngoại giao, nhà quân sự kiệt xuất trong lịch sử Việt Nam. Tên tuổi của ông cũng gắn liền với chiến thắng tại phòng tuyến sông Như Nguyệt cùng với bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta.

Vị quan phò tá ba đời vua triều Lý
 
Theo “Phả hệ họ Ngô Việt Nam” Lý Thường Kiệt tên thật là Ngô Tuấn, tự là Thường Kiệt. Sau này, ông được ban cho quốc tính (họ của vua) và lấy tên là Lý Thường Kiệt. Ông là của con của Sùng Tiết tướng quân Ngô An Ngữ, cháu của Ngô Ích Vệ, chắt của Sứ quân Ngô Xương Xí và là cháu đời thứ 5 của Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập – hoàng tử trưởng của Ngô Quyền (Tuy nhiên điều này còn có rất nhiều người không đồng tình và phản biện).
 
Tuy bản thân là một thái giám, nhưng nhờ tài năng và đức độ của mình mà trong cả ba đời vua nhà Lý là Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông tin tưởng và giao cho ông nắm giữ nhiều chức quan. Đây cũng là một điều hiếm thấy trong lịch sử nước ta khi một hoạn quan lại có thể nắm quyền lực và tham gia vào việc triều chính quốc gia.
 
Năm ông 21 tuổi dưới thời vua Lý Thái Tông ông được bổ nhiệm giữ chức Kỵ mã hiệu úy (một chức quan nhỏ trong kỵ binh). Đến năm 23 tuổi (1041) ông được sung vào ngạch thị vệ để hầu vua, giữ chức Hoàng môn chi hậu, và được thăng dần lên chức Đô tri, trông coi mọi việc trong cung.
 
Triều Lý Thái Tông, ông được phong chức Bổng hành quân hiệu úy (một chức võ quan cao cấp), sau đó ông được thăng Kiểm hiệu thái bảo- một chức quan rất quan trọng trong triều. Năm 1061, ông được lệnh cầm quân đi trấn yên Thanh - Nghệ.
 
Năm 1069, vua Lý Thánh Tông thân chinh đi đánh quân Chiêm Thành. Lý Thường Kiệt được phong đại tướng, chỉ huy đội quân tiên phong tiến vào đánh phá kinh thành và bắt được quốc vương Chiêm Thành là Chế Củ. Chế Củ đã xin hàng và dâng ba châu: Bố Chánh, Địa Lý, Ma Linh (nay là địa phận Quảng Bình và bắc Quảng Trị) để chuộc tội.

Sau khi dẹp yên được quân Chiêm Thành, Lý Thường Kiệt được ban phụ quốc Thái phó, tước Khai Quốc công. Tháng 8 năm 1075 ông được phong chức Đôn quốc Thái uý. Đến khi mất, ông được vua Lý Nhân Tông truy phong chức Kiểm hiệu Thái uý Bình chương sự  và ban tước Việt Quốc công. Chức vụ của ông lúc ấy lớn thứ 2 trong triều chỉ sau thái sư Lý Đạo Thành.
 
Năm 1072, vua Lý Thánh Tông từ trần, hoàng tử Càn Đức- con trai của Nguyên phi Ỷ Lan lên ngôi lấy hiệu là Lý Nhân Tông khi mới 7 tuổi.
 
Đập tan âm mưu xâm lược của bọn giặc phương Bắc
 
Quân nhà Tống thấy “ấu chúa” lên ngôi là một cơ hội tốt để xâm lược nước ta. Chúng đã tiến hành xây dựng những căn cứ quân sự và hậu phương tại ba châu Ung, Khâm, Liêm (thuộc Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay).
 
Trước âm mưu xâm lược của giặc phương Bắc, Lý Thường Kiệt cho rằng: "Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước, chặn thế mạnh của giặc”. Được triều đình tán thành, ông huy động 10 vạn quân tiến hành một cuộc tập kích đánh thẳng vào các căn cứ chuẩn bị xâm lược của kẻ thù ngay trên đất Tống.
 
Lý Thường Kiệt đã viết bài hịch Phạt Tống lộ bố văn nhằm nói rõ lý do đánh Tống rồi niêm yết tại nhiều nơi. Nhờ đó, cuộc chiến với quân Tống đã được nhân dân ta hết lòng ủng hộ.
 
Ngày 27 tháng 10 năm 1075 quân ta bắt đầu tiến công vào đất Tống. Thoạt tiên, quân Việt phá hủy một loạt các đồn trại biên giới, rồi lần lượt đổ bộ lên cảng và đánh chiếm các thành Khâm, Liêm. 
Sau đó, đại quân tiếp tục tiến sâu vào đất địch. Ngày 18 tháng 1 năm 1076 áp sát thành Ung. Đây được coi là căn cứ quan trọng nhất trong những căn cứ địch dùng cho cuộc viễn chinh xâm lược vào Đại Việt. Sau 42 ngày vây hãm và tấn công quyết liệt ta hạ được thành, tiêu diệt và bắt sống nhiều quân địch.
 
Theo chủ trương đã định, quân ta được lệnh san bằng các thành lũy lớn nhỏ, tiêu hủy các kho dự trữ lương thực, vũ khí, giáng đòn sấm sét làm tổn thất nghiêm trọng các cơ sở vật chất và phương tiện chiến tranh của địch, làm nhụt nhuệ khí của bọn cầm quyền phương Bắc trong việc chuẩn bị chiến tranh xâm lược. 
 
Sau khi đã đạt mục tiêu của cuộc tiến công đánh sang đất Tống, Lý Thường Kiệt quyết định rút nhanh quân về nước. Cuộc rút quân rất đúng lúc, vừa bảo toàn được lực lượng, vừa phá được kế hiểm của giặc: chúng định điều quân lẻn sang đánh úp Đại Việt nhân lúc đại quân ta còn đang ở bên nước chúng.
 
Trong Việt sử tiêu án, nhà viết sử Ngô Thì Sĩ đã ca ngợi Lý Thường Kiệt: "Bày trận đường đường, kéo cờ chính chính, mười vạn thẳng sâu vào đất khách, phá quân ba châu như chẻ trúc, lúc tới còn không ai dám địch, lúc rút quân còn không ai dám đuổi, dụng binh như thế, chẳng phải nước ta chưa từng có bao giờ".
 
Biết rõ nhà Tống sẽ không từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta, Lý Thường Kiệt đã phái người vào đất Tống để theo dõi cụ thể mọi động thái, đồng thời tập trung xây dựng phòng tuyến chính của quân ta dựa vào bờ nam sông Như Nguyệt (sông Cầu), có rào giậu nhiều tầng, chạy dài trên 200 dặm từ chân núi Tam Đảo đến sông Lục Đầu.
 
Tháng chạp năm Bính Thìn 1076 nhà Tống cho quân tấn công vào nước ta. Nhà Lý giao cho Lý Thường Kiệt lãnh đạo quân đội chống lại quân xâm lược. Ông đã chặn đánh giặc Tống tại sông Như Nguyệt. Quân nhà Tống bị đẩy lui, tướng Quách Quỳ phải cho quân lui về phía Tây, đóng tại bờ sông Phú Lương.
 
Lý Thường Kiệt nhiều lần đem binh thuyền đón đánh không cho quân Tống sang sông. Cuộc chiến giữa hai bên diễn ra vô cùng ác liệt. Có lần giặc Tống đã chọc thủng cả một phần phòng tuyến sông Như Nguyệt vững chãi, khiến quân ta chết mấy ngàn người.
 
Để cổ vũ cho tinh thần của binh sĩ, Lý Thường Kiệt đã viết bài thơ Nam quốc sơn hà:
 
Nam Quốc Sơn Hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại Thiên Thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

Dịch nghĩa là:
Sông núi nước nam, vua nam ở
Rành rành đã định tại Sách Trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bây sẽ bị đánh tơi bời
 
Lý Thường Kiệt cho người hàng đêm giả làm thần sông Như Nguyệt đọc bài thơ này, khiến tinh thần quân ta được khích lệ bội phần còn quân Tống thì sợ khiếp vía không dám tiến đánh.
 
Nhân lúc tinh thần quân sĩ đang lên cao, Lý Thường Kiệt chỉ huy, đại quân ta vượt sông bất ngờ đánh úp vào doanh trại chính của địch. Theo Việt nam sử lược thì quân Tống đại bại, bị tiêu diệt đến năm, sáu phần mười. Số còn lại cũng lo sợ, nao núng tìm cách rút chạy về nước Tống.
 
Sau chiến thắng trên, Lý Thườnsg Kiệt còn chủ động cho người sang cầu hòa. Thực chất, đó chỉ là một đòn tấn công đặc biệt, mở đường cho quân Tống rút lui về nước nhằm chuẩn bị cho việc tái lập mối quan hệ “bang giao hữu hảo”, tránh họa binh đao lâu dài cho cả hai dân tộc.
 
Cuộc chiến này đã khiến đại Tống tổn thất nặng nề về người và của. Nếu tính cả quân số của nhà Tống bị tiêu diệt ở Châu Ung, Châu Khâm và Châu Liêm, tổng số quân Tống bị giết lên tới khoảng ba chục vạn. Chi phí cho cuộc chiến tranh nếu quy ra vàng thì tổng chi phí lên tới 5.190.000 lạng.
 
Thất bại này đã khiến giặc phương Bắc từ bỏ ý định xâm lược và đô hộ Giao Chỉ (tên hiệu của nước ta lúc bấy giờ) và trong khoảng 200 năm sau đó, triều đại Trung Quốc không dám đụng đến đất nước ta.
Lịch sử mãi ghi nhớ công ơn người anh hùng dân tộc, nhà quân sự kiệt xuất, nhà chính trị và ngoại giao tài ba Lý Thường Kiệt, người lãnh đạo quân dân Đại Việt thời Lý, phá Tống bình Chiêm thắng lợi. Với công lao hiển hách của mình, Lý Thường Kiệt từng được cả triều đình nhà Lý quý trọng. Ngay lúc ông còn sống, Lý Nhân Tông đã cho làm bài hát để tán dương công trạng. Ông được lịch sử ghi nhận là anh hùng kiệt xuất, một con người hiến dâng cả tâm hồn sức lực cho sự nghiệp độc lập của Tổ quốc ở buổi đầu thời tự chủ. Tài năng quân sự kiệt xuất của ông làm kẻ thù khiếp phục.
 
Lý Thường Kiệt mất tháng sáu năm Ất Dậu (tức trong khoảng từ 13/7 đến 11/8/1105), thọ 86 tuổi, được truy tặng Kiểm hiệu Thái úy bình chương quân quốc trọng sự, tước Việt Quốc Công. Nhiều nơi đã lập đền thờ, dựng bia ghi công lao của ông, tiêu biểu nhất là bài văn bia chùa Linh Xứng ở huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá:
 
 Lý công nước Việt
Noi dấu tiền nhân
 Cầm quân tất thắng
Trị nước yên dân
Danh lừng Trung Hạ
Tiếng nức xa gần
Vun trồng phúc đức
Đạo Phật sùng.
 

Ngân Hà

Từ Khóa :