Loài người trước ngưỡng cửa “diệt vong” vì ô nhiễm


Loài người trước ngưỡng cửa “diệt vong” vì ô nhiễm

P.V 10:30 3/11/2017

Lượng khí CO2 trong bầu khí quyển của Trái Đất đã tăng vọt và đạt kỷ lục trong vòng 800.000 năm qua. Hoạt động của con người đã làm gia tăng đáng kể khí nhà kính CO2, đẩy nhanh quá trình biến đổi khí hậu, sự nóng lên của Trái Đất và ô nhiễm trên toàn hành tinh. Số người chết vì ô nhiễm không khí mỗi năm còn cao gấp hàng chục lần so với thương vong của chiến tranh.

Hơn 3 triệu cái chết mỗi năm vì không khí ô nhiễm

Tạp chí Y khoa The Lancet dẫn lại một báo cáo toàn cầu mới nhất về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (BĐKH) lên sức khỏe cộng đồng cho biết, trên thế giới hiện nay có hơn 2.100 thành phố có mức ô nhiễm môi trường vượt quá ngưỡng cho phép. Trong đó bụi mịn gây ô nhiễm phát sinh từ quá trình đốt cháy nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu diesel... đủ nhỏ có thể chui vào phổi và dẫn tới một loạt vấn đề nghiêm trọng cho sức khỏe.

Báo cáo cho biết, từ năm 1990, lượng bụi mịn có đường kính nhỏ hơn 2,5 micromet trong không khí đã tăng 11,2%. Riêng tại Anh, chất lượng không khí tại 44 thành phố đã vượt quá ngưỡng đề xuất của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).

Hugh Montgomery, đồng chủ tịch của The Lancet Countdown (Tổ chức hợp tác nghiên cứu quốc tế về sức khoẻ và biến đổi khí hậu), Giám đốc của Viện Sức khoẻ và Hiệu suất của con người (Đại học College London, Anh), cho biết: biến đổi khí hậu là “mối đe dọa lớn nhất đến sức khỏe con người ở thế kỷ 21”.

Ngoài ra, báo cáo cũng chỉ rõ những hậu quả mà ô nhiễm môi trường gây ra với sức khỏe, khí hậu, thời tiết và kinh tế, là những vấn đề cần được quan tâm ngay.

Ảnh hưởng từ ô nhiễm không khí có thể nhìn thấy được ở Anh. Ảnh: Financial Tribune

Số liệu từ WHO, mỗi năm có hơn 3 triệu người chết vì ô nhiễm không khí. Tại Trung Quốc (nước ô nhiễm nhất hành tinh), số người thiệt mạng do không khí bẩn là hơn 1 triệu người. Ở quốc gia ô nhiễm thứ 2 trên thế giới - Ấn Độ, mỗi năm có hơn 600.000 người thiệt mạng vì bầu không khí ô nhiễm. Còn tại Mỹ, ô nhiễm môi trường cũng khiến hơn 38.000 người mỗi năm phải từ giã cuộc sống.

Số thương vong trên toàn thế giới trong các cuộc chiến tranh

- Trong chiến tranh thế giới lần 1: khoảng 16 triệu người

- Trong chiến tranh thế giới lần 2: ít nhất 55 triệu người.

- Trong 4 thập niên Chiến tranh lạnh, trung bình mỗi năm có 180.000 người thiệt mạng.

- Thập niên 1990: có 100.000 người chết/năm

- Những năm đầu của thế kỷ 21, số người chết trung bình mỗi năm là 55.000 người.

Chất lượng không khí kém là nguyên nhân hàng đầu kéo theo các vấn đề sức khỏe liên quan đến môi trường như ung thư phổi, bệnh tim mạch, đột quỵ. Các chất ô nhiễm như sunfat (gốc SO4), nitrat (gốc NO3), muội than, bụi mịn có thể xâm nhập sâu vào phổi và tàn phá sức khỏe, hệ miễn dịch của cơ thể.

Ô nhiễm không khí tác động nặng nề nhất tới những nước đang và kém phát triển, đặt ra nhiều vấn đề nguy cấp cho các nước phát triển.

Chất lượng không khí kém

Giáo sư về dịch tễ học môi trường Paul Wilkinson (Trường Vệ sinh dịch tễ và Y học nhiệt đới London), đồng tác của của báo cáo, cho biết: “Ô nhiễm không khí là một trong những nguyên nhân hầng đầu gây tử vong sớm trên thế giới”.

Theo báo cáo, hơn 803.000 ca tử vong ở 21 quốc gia châu Á năm 2015 là do ô nhiễm từ than, giao thông, sử dụng nhiên liệu hóa thạch ở nhà, như đốt than đá để sưởi ấm.

Tuy nhiên, ông cũng nói có một số “hy vọng nhỏ nhoi” để cải thiện tình hình ô nhiễm môi trường trên thế giới. Thực tế, ngành nhiệt điện than sau khi đã đạt đỉnh vào năm 2013 thì đang có dấu hiệu suy giảm. Đầu tư vào than đá cũng giảm từ năm 2013, nhưng “sẽ mất một vài thế hệ” thì tình hình mới được cải thiện, ông Wilkinson nói.

Nguồn gốc bụi mịn tại các vùng lãnh thổ trên thế giới. Đồ họa: CNN

Đồng thời, ông Wilkinson cũng kêu gọi các chính phủ ưu tiên loại bỏ nhiên liệu hóa thạch vì mối nguy hiểm của chúng đối với môi trường và sức khoẻ con người. Tuy nhiên, vẫn còn 71% trong số 2.971 thành phố có tên trong cơ sở dữ liệu ô nhiễm không khí của WHO đã vượt quá ngưỡng khuyến cáo hàng năm về lượng ô nhiễm bụi mịn trong không khí.

Báo cáo khác của Bộ Bảo vệ Môi trường Trung Quốc công bố ngày 28/10 cho biết: Bắc Kinh vẫn là một trong những thành phố ô nhiễm nặng nhất nước này, thậm chí tình hình ô nhiễm không có cải thiện nào so với năm ngoái, bất chấp chiến dịch chống ô nhiễm của chính phủ.

Gia tăng bệnh tật

Hugh Montgomery cho biết: “Từ năm 1990, mỗi thập kỷ, số ca bệnh sốt xuất huyết lại tăng gấp đôi”. Nhiều người nhận thấy đây là hậu quả của biến đổi khí hậu và số ca sốt xuất huyết “sẽ tiếp tục gia tăng”.

Số ca tử vong liên quan đến biến đổi khí hậu. Đồ họa: CNN

Bệnh sốt xuất huyết do một loại virus lây truyền qua muỗi gây ra, khiến người bệnh bị sốt, nhức đầu và đau nhức. Một số trường hợp còn có thể kèm theo nhiều triệu chứng khác như: chảy máu, suy thận và tử vong. Bệnh sốt xuất huyết chưa có vaccine hoặc thuốc điều trị đặc hiệu.

Sự thay đổi nhiệt độ toàn cầu, đặc biệt là nhiệt độ tăng cao, đã mở rộng phạm vi ảnh hưởng mà muỗi mang virus sốt xuất huyết có thể phát triển.

WHO ước tính, mỗi năm có khoảng 390 triệu người mắc bệnh sốt xuất huyết.

Báo cáo đăng trên Tạp chí Y khoa The Lancet cho biết, số ca tử vong do sốt xuất huyết đã gia tăng trên toàn thế giới, đặc biệt ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, châu Mỹ La tinh và vùng Caribbean. Mùa nóng ẩm vừa qua, Việt Nam cũng đã phải chứng kiến một trận dịch bệnh đáng quan ngại với nhiều ca biến chứng nguy hiểm.

Sóng nhiệt: Tăng nguy cơ tử vong, giảm sức lao động

Sự biến động của thời tiết từ năm 1990 – 2016. Đồ họa: CNN

Peter Cox, giáo sư động lực hệ học của hệ thống điều hòa khí hậu (Đại học Exeter), đồng tác giả báo cáo chia sẻ, từ năm 2000 đến 2016, nhiệt độ Trái đất ở những nơi con người sinh sống đã tăng 0,9 độ C.

“Đất liền đang nóng lên nhanh hơn cả đại dương”, ông nói. Điều nằy làm gia tăng số lượng các cơn sóng nhiệt mà ngày nay con người dễ cảm nhận được. Sóng nhiệt gây tổn hại nhất cho người già. Vì tuổi thọ dân số ngày một cao, số người có thể bị ảnh hưởng bởi sóng nhiệt sẽ tăng lên.

Cũng trong giai đoạn 2000 – 2016, có khoảng 125 triệu người già trên thế giới bị ảnh hưởng bởi các đợt sóng nhiệt, giảm 5,3% số lượng người lao động chân tay và làm việc ngoài trời. Giáo sư Cox đánh giá, điều này gây tổn thất kinh tế cho các quốc gia.

Năm 2016, khí CO2 trong khí quyển đạt mức kỷ lục

Đo đạ các đồng vị phóng xạ từ lõi đá có thể cho chúng ta biết khí hậu 800.000 năm trước như thế nào. Ảnh: AP/Brennan Linsley

Chỉ trong vòng 1 năm, lượng khí CO2 trong khí quyển đã tăng lên mức kỷ lục, chưa từng thấy trong 800.000 năm qua. 800.000 năm là khoảng thời gian tối đa các nhà khoa học có thể đo đạc trực tiếp từ các đồng vị phóng xạ từ các lõi đá.

Petteri Taalas, người đứng đầu Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) cho biết, về cơ bản sự gia tăng lượng khí nhà kính CO2 cho thấy các biện pháp cắt giảm và hạn chế lượng khí thải nhà kính vẫn chưa hiệu quả. Điều đó làm gia tăng lo ngại nhiệt độ toàn cầu sẽ tăng lên, ngày một nóng hơn. Ông Petteri Taalas cho rằng nếu không nhanh chóng giảm lượng CO2 và các khí thải gây hiệu ứng nhà kính khác, thế giới sẽ tiến tới mức tăng nhiệt độ nguy hiểm vào cuối thế kỷ này, ở mức cao hơn so với mục tiêu đề ra trong Hiệp định Paris về chống biến đổi khí hậu.

Erik Solheim, người đứng đầu Cơ quan Môi trường thuộc Liên Hợp Quốc cảnh báo thế giới đang thải ra quá nhiều khí CO2 và cần đảo ngược xu thế này. Ông cho rằng, điều quan trọng hiện nay là ý chí chính trị toàn cầu và nhận thức về tính khẩn cấp của vấn đề.

Theo một báo cáo của cơ quan quan trắc quốc tế vừa được công bố ngày 30/10, năm 2016, nồng độ khí CO2 đã đạt mức 403,3 phần triệu (ppm), cao hơn mức 400 phần triệu của năm 2015. Mức tăng tăng nồng độ khí CO2 đo được trong năm 2016 (3,3ppm) cao gấp rưỡi so với mức tăng trung bình của 10 năm qua.

Nguyên nhân của sự gia tăng này là do tác động từ hiện tượng thời tiết cực đoan El Nino làm nhiệt độ Trái Đất nóng lên bất thường cũng như các hoạt động của con người. WMO kêu gọi cộng đồng quốc tế hành động quyết liệt hơn để đạt được các mục tiêu trong Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu, thứ đã bị chính quyền Trump bác bỏ.

Cũng theo WMO, trong hơn 70 năm qua, tỷ lệ tăng của Cacbon (C) trong bầu khí quyển đã “cao gấp gần 100 lần so với kỷ băng hà cuối cùng”, là lần gần nhất ghi nhận Trái Đất thay đổi nhiệt độ, trở nên nóng hơn.

Theo cộng đồng khoa học toàn cầu thì “nồng độ CO2 trong khí quyển thay đổi đột ngột là điều chưa bao giờ được nhìn thấy”. Báo cáo viết, sự “phi mã” của khí nhà kính “có khả năng gây ra những thay đổi không thể nói trước về hệ điều hòa không khí”, có thể phá vỡ hệ sinh thái và nguồn lợi kinh tế.

WMO tiết lộ, lần gần đây nhất lượng khí CO2 trong bầu khí quyển của Trái Đất tăng cao là khoảng 4 triệu năm trước. Lúc đó, nhiệt độ tăng khoảng 2-3 độ C, nóng hơn ngày nay. Những tảng băng ở Greenland và Tây Nam Cực đã hoàn toàn tan chảy, làm  mực nước biển dâng cao 10-20m so với hiện nay.

Báo cáo cũng nhắc tới sự gia tăng của khí metan, đây là khí gây hiệu ứng nhà kính nguy hiểm thứ hai do con người tạo ra, sau khí CO2. Khí metan đang tiếp tục tăng nhanh, đặc biệt là từ các vùng nhiệt đới và là một hiện tượng mà các nhà khoa học khí tượng chưa tìm được câu trả lời rõ ràng. Một số chuyên gia lo ngại rằng hiện tượng này báo hiệu một “vòng lặp thông tin phản hồi” vì khi nồng độ khí metan tăng làm không khí nóng lên và kích hoạt sự phóng thích khí khí metan đang bị “khóa” trong các đầm lầy tự nhiên.

“Đây là hiện tượng không mong muốn. Các chất đồng vị Cacbon trong metan cho thấy sự tăng trưởng nồng độ CH4 không phải do các nguyên liệu hóa thạch gây ra. Chúng tôi không hiểu tại sao lượng khí metan đang tăng lên, đây có thể là dấu hiệu của quá trình thay đổi khí hậu. Nó rất đáng lo ngại” - Euan Nisbet, nhà nghiên cứu khí tượng của Đại học Royal Holloway (London, Anh) trả lời phóng viên BBC News.

Nhiều quốc gia đang chuẩn bị cho cuộc đàm phán về khí hậu tiếp theo của Liên Hợp Quốc sẽ diễn ra tại Bonn vào tuần này.

Các quốc gia cần đẩy mạnh phối hợp về vấn đề môi trường

Đối phó được với vấn đề biến đổi khí hậu sẽ đem lại nhiều lợi ích và cải thiện được sức khỏe cộng đồng. Nhưng các tác giả nghiên cứu về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới khỏe cộng đồng cho rằng chính phủ các nước còn chậm trễ trong giải quyết vấn đề.

Mặc dù ngày càng có nhiều quốc gia bắt đầu xây dựng kế hoạch và chiến lược để giảm tác động của biến đổi khí hậu, nhưng phần lớn mới là các nước phát triển.

“Chưa đến 1/3 các nước đã làm được gì đó để ngăn biến đổi khí hậu. Ở các quốc gia kém phát triển, sự phối hợp để bảo vệ môi trường còn thấp”, Georgina Mace, người đứng đầu Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Đa dạng sinh học của UCL chia sẻ.

Theo ông, các nước có thể chuẩn bị cho những thay đổi về cơ sở hạ tầng như giao thông vận tải, năng lượng điện, các cơ sở chăm sóc sức khỏe... để hạn chế phát thải, đẩy nhanh tiến trình biến đổi khí hậu. Thêm vào đó, có thể ưu tiên các chính sách giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch, hướng người dân tới các phương tiện giao thông chạy bằng điện, nguồn năng lượng tái tạo.

Ngày nay, dù ngành kinh doanh ôtô điện đã đạt bán được 77 triệu chiếc/năm thì vẫn bị “đánh bại” bởi 1,2 tỷ phương tiện giao thông khác dùng xăng dầu và dầu diesel.

Bà Mace cho rằng, “sự phối hợp giữa các quốc gia trong tương lai càng quan trọng hơn” khi “tác động của ô nhiễm không khí, biến đổi khí hậu đang trở nên tồi tệ”.

Bàn về bản báo cáo, Clare Goodess - nhà nghiên cứu cao cấp thuộc Cơ quan nghiên cứu khí hậu thuộc Đại học East Anglia cho rằng: “Các số liệu nêu trong báo cáo cũng cho thấy sự mở rộng của biến đổi, đòi hỏi các chính sách không chỉ quan tâm với vấn đề y tế cộng đồng mà còn phải xây dựng các hiệp ước cùng giảm thiểu, hạn chế phát thải khí ô nhiễm trong các dự án hợp tác kinh tế, tài chính, như chuyển từ nhiên liệu hóa thạch sang nền kinh tế cacbon thấp”.


P.V

Theo CNN + Quartz