“Lá thư” 1918 gửi 2018 (P2)



“Lá thư” 1918 gửi 2018 (P2)

Thanh Lam 9:51 2/10/2018

Con người đầu thế kỷ XX đã tiên đoán rằng thế kỷ XXI sẽ là thời gian của bùng nổ công nghệ, mọi khoảng cách chỉ còn là “chuyện nhỏ”. Quả thực là như vậy, nhưng cũng có những tưởng tượng vẫn chỉ là… tưởng tượng.

Công nghệ được phát triển đến mức tối ưu

Vào năm 1900, nhà văn John Elfrith Watkins Jr., đã viết một bài báo có tựa đề “Điều gì có thể xảy ra trong thế kỷ tới” cho tạp chí The Ladies’ Home Journal. Với góc nhìn đầy lạc quan và mới mẻ, Watkins tưởng tượng một thế giới mà công nghệ không chỉ giới hạn phát triển trong các ngành công nghiệp hay phục vụ mục tiêu quốc phòng, mà nó sẽ được chuyển hướng sang đáp ứng như cầu giải trí và mang đến sự tiện lợi cho mọi người.

Bức ảnh được đăng tải năm 1910 về cách thức con người có thể đối thoại trong tương lai giống như Skype và Facetime ngày nay

Mặc dù ông không lường trước được sự phát triển như vũ bão của truyền hình như hiện tại, nhưng Watkins cũng dự đoán rằng công nghệ này sẽ góp phần giúp mang những buổi hòa nhạc và biểu diễn opera đến từng ngôi nhà, trong khi chất lượng âm thanh vẫn như thể được thưởng thức từ một rạp hát, và mọi sự vật trên Trái Đất này sẽ xuất hiện trong một chiếc thiết bị tiên tiến, như máy quay video giúp kết nối con người dù ở khoảng cách lên đến hàng vạn km chẳng hạn.

Ông cũng dự đoán rằng ảnh màu sẽ có ngày được lan truyền nhanh chóng khắp thế giới, khi đó bất cứ sự kiện nào, dù có xảy ra ở Trung Quốc, cũng sẽ được công bố trên báo chí chỉ một giờ sau đó.

Watkins tưởng tượng rằng công nghệ sẽ làm biến đổi từng ngôi nhà và cả chế độ ăn của con người. Mặc dù phải đến năm 1925, máy làm mát thực phẩm - tiền thân của chiếc tủ lạnh ngày nay - mới được phát minh và phải đến những năm 1940 mới được sử dụng rộng rãi, nhưng Watkins đã dự đoán chính xác rằng “tủ lạnh sẽ giữ được lượng thực phẩm tươi ngon trong khoảng thời gian dài” và “tủ lạnh di động trên đất và biển” sẽ được chế tạo để cung cấp trái cây và rau quả từ khắp nơi trên thế giới và lưu giữ độ tươi ngon cho những sản phẩm trái mùa. Ông thậm chí còn nhắc đến việc phát triển thức ăn nhanh, dự đoán những “bữa ăn nấu sẵn… phục vụ nóng hoặc lạnh đến từng ngôi nhà”. Ông tin rằng những bữa ăn được giao bởi nhà hàng này sẽ thay thế hoàn toàn việc nấu ăn tại nhà.

Một số dự đoán của Watkins đã rất gần với thực tế, nhưng ông hơi quá lạc quan khi tưởng tượng những khía cạnh khác của cuộc sống trong thế kỷ XXI. Ông nghĩ rằng con người sẽ tiêu diệt hoàn toàn các loài gây hại như gián, chuột, và muỗi, cũng như tất cả các loài động vật hoang dã - những loài động vật “chỉ tồn tại trong thời kỳ kinh hoàng”.

Dự đoán này rất phổ biến vào đầu những năm 1900, và là phản ứng mang tính chất dây chuyền bởi thực tế đã có rất nhiều loài vật trở nên tuyệt chủng: Ngựa quagga (1883), bồ câu rừng (bồ câu viễn khách) (1914), và hổ Tasmania (hay chó sói Tasmania) (1934).

Mặc dù ngày nay chúng ta đang trải qua một thời đại với nhiều loại động vật khác bị tuyệt chủng hoặc có nguy cơ tuyệt chủng do hoạt động của con người gây ra, nhưng rất may vẫn chưa hoàn toàn đạt tới mức độ tuyệt chủng như dự báo của các bậc tiền nhân.

Watkins cũng nghĩ rằng chúng ta sẽ loại bỏ các chữ cái C, X hoặc Q trong bảng chữ cái hàng ngày, vì chúng “không thực sự cần thiết”. Con người sẽ biến mình thành siêu sinh vật, việc giáo dục thể chất sẽ được tiến hành ngay từ khi mới sinh ra, theo đó, việc chênh lệch thể chất giữa nam và nữ là không đáng kể. Tuy nhiên, thật không may, chúng ta đang phải đối mặt với vấn đề hết sức nghiêm trọng: lười vận động dẫn đến bệnh béo phì trên toàn cầu, điều này hoàn toàn trái ngược với tưởng tượng của Watkins.

Trong suy nghĩ của những người đang sống ở những năm 1900, khi điện năng được sử dụng rộng rãi, các thiết bị, phương tiện như ôtô và điện thoại ngày càng có giá phải chăng hơn, bức tranh công nghệ tích hợp hoàn toàn vào cuộc sống của chúng ta ngày càng trở nên rõ nét. Lúc ấy, robot và công nghệ tự động hóa sẽ rất cần thiết cho những người thế kỷ XXI, là tài xế lái xe, giúp dọn dẹp nhà cửa, lên lịch giặt ủi và thậm chí là cài đặt hệ thống điện trong nhà hoàn toàn tự động.

Alexander Graham Bell cũng dự đoán xu hướng này, ông nghĩ nó đã báo trước điều gì đó đặc biệt hứa hẹn cho những sinh viên tốt nghiệp McKinley mà ông đã đề cập vào năm 1918. Nắm bắt được sự phát triển của ngành công nghiệp ưu tiên công nghệ và sự bùng nổ số lượng các nhà khoa học và kỹ sư, thật không khó để khẳng định những người có chuyên môn khoa học và các chuyên gia kỹ thuật sẽ đứng ở vị trí đáng kính và danh dự ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới.

Tương lai của năng lượng sạch

Bức ảnh “Thành phố trong tương lai” được đăng trên tạp chí Popular Mechanics năm 1928

Có lẽ gây điều gây ngạc nhiên nhất từ ​​thế kỷ trước là những dự đoán liên quan đến việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch và tác động đến môi trường. Ngày nay, nhiều quốc gia vẫn chống lại việc chuyển đổi từ nhiên liệu hóa thạch sang năng lượng sạch, bền vững và bỏ qua sự đồng thuận trong ký kết hiệp định về chống biến đổi khí hậu. Nhưng những người có tầm nhìn xa trông rộng ở đầu thế kỷ XX đã đặt ra giả thuyết rằng chúng ta sẽ phải bỏ thói quen nhiên liệu hóa thạch vào một ngày nào đó.

Ngay từ năm 1896, nhà khoa học Svante Arrhenius đã tính toán rằng việc tăng gấp đôi nồng độ carbon dioxide trong khí quyển sẽ làm tăng nhiệt độ của Trái đất từ ​​8 đến 9 độ C. Arrhenius nhận ra điều đó nhờ phát hiện đáng ngạc nhiên của người bạn Arvid Högbom - người đã phát hiện ra các hoạt động của con người đã giải phóng lượng khí carbon dioxide ở mức tương đương như các quá trình tự nhiên. Do trình độ (dẫn đến mức độ) đốt than của ngành công nghiệp năm 1896 thời ông sống, Arrhenius cho rằng sự ấm lên do con người gây ra sẽ không đạt đến mức độ nguy hiểm trong hàng ngàn năm nữa. Nhưng vào thời điểm ông xuất bản cuốn sách Worlds in the Making (1908), mức độ sử dụng đã bùng nổ đến mức Arrhenius phải thay đổi quan điểm khi cho rằng lượng khí carbon dioxide trong khí quyển có thể tăng gấp đôi trong vài thế kỷ.

Nhìn chung, các nhà khoa học thời kỳ đó không có quan điểm như Arrhenius, cũng như không cho rằng việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch có tác động xấu đến hành tinh của chúng ta, ít nhất trong một thế kỷ. Nhưng ngay cả khi các nhà khoa học chưa hiểu được tường tận tác động biến đổi khí hậu của nhiên liệu hóa thạch, họ cũng đã cho rằng một ngày nào đó, chúng ta sẽ không còn nguồn năng lượng từ than và dầu. Vào tháng 2/1917, trong bài phát biểu của mình, Alexander Graham Bell cho biết: “Việc sử dụng than và dầu ngày càng tăng lên và chúng sẽ sớm bị cạn kiệt.”

“Chúng ta có thể lấy than ra khỏi mỏ, nhưng không bao giờ có thể đưa nó trở lại. Chúng ta có thể hút dầu từ các hồ chứa dưới lòng đất, nhưng không bao giờ có thể bơm lại chúng nữa. Mức tiêu thụ than và dầu hàng năm của thế giới đã ở con số lớn đến mức chúng ta có thể đo được bao giờ thì cạn kiệt nguồn cung. Chúng ta sẽ làm gì khi chúng ta không còn than hay dầu nữa!”

Ông cho rằng những loại năng lượng tự nhiên và tái tạo được như thủy điện sẽ được sử dụng rộng rãi (Mặc dù thời điểm đó, thủy điện khá hạn chế). Ông cũng ngụ ý rằng một ngày nào đó có thể tạo ra năng lượng từ thủy triều hay sóng, hoặc “việc sử dụng tia sáng mặt trời trực tiếp cũng có thể là nguồn năng lượng dồi dào”.

Bell không phải là người duy nhất dự đoán chắc chắn chúng ta sẽ phải tìm một nguồn năng lượng mới trong thế kỷ tiếp theo. Năm 1917, khi tình trạng thiếu than trầm trọng ở Hoa Kỳ diễn ra khiến phong trào kêu gọi bảo vệ tài nguyên thiên nhiên bùng nổ, một tay viết của tờ Chicago News khẳng định rằng việc tích trữ than thật sự ngớ ngẩn. Ông châm biếm việc lo về nguồn cung than cũng như sự lo lắng về nguồn cung nến vậy - hết sức vô nghĩa. Ông khăng khăng: “Những kẻ điên cuồng đang lo lắng về nguồn cung cấp than thực sự viển vông. Sẽ chẳng có chuyện như vậy, rồi người đời trăm năm sau sẽ cười chê ‘Các bác già, nghèo nàn và lạc hậu, thực sự dùng than để sưởi ấm cơ đấy!”

Thực tế, chúng ta chưa cười được. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA), Mỹ vẫn sử dụng 17% năng lượng từ than đá; 28% nguồn năng lượng đến từ các sản phẩm dầu mỏ, và 33% từ khí tự nhiên; còn năng lượng tái tạo chỉ chiếm 12%, trái ngược với những gì tay viết trên đã tưởng tượng là chúng ta có thể “đưa năng lượng mặt trời vào ‘nhà kho’ và ‘bơm’ đến từng nhà qua đường ống”. Trên toàn cầu, than chiếm khoảng 27% sản lượng năng lượng của thế giới còn năng lượng tái tạo là khoảng 24%.

Điều thực sự đáng mừng là tỷ lệ này đang thay đổi khi năng lượng tái tạo ngày càng trở nên rẻ hơn, khiến chúng ta có thể tiến gần hơn đến thế giới mà những người ở thế kỷ trước tưởng tượng. Có lẽ, chúng ta bắt đầu có thể tính đến những tương tượng khác được rồi, “tài xế” cá voi chẳng hạn. Nếu vậy thì ít nhất chúng cũng bị giết chậm hơn.


Thanh Lam