Kiễng: Lại minh oan cho tín ngưỡng thờ Mẫu

Kiễng: Lại minh oan cho tín ngưỡng thờ Mẫu

Phạm Trang 3 tháng trước

Bất cứ tôn giáo, tín ngưỡng nào hướng tới điều nhân văn, cái cao đẹp đều là những di sản văn hóa cần được bảo tồn và phát triển. Tuy nhiên, chuyện hầu đồng vẫn còn bị ngộ nhận, chưa hiểu đúng bản chất. Nhưng việc được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đã biến chuyện hầu đồng trở nên rầm rộ, khiến xã hội vẫn ngơ ngác thế nào là tín ngưỡng hay mê tín?

Niềm tin hay thuốc độc?
Ngày 11/12, tại Tổ Chim Xanh số 13/19 Đặng Dung đã diễn ra buổi nói chuyện với chủ đề: “Tôn giáo của người Việt và sự giải phóng năng lượng” với sự dẫn dắt của nhà báo Phan Đăng. Tại buổi tọa đàm, diễn giả cùng các bạn trẻ quan tâm đến tín ngưỡng thờ Mẫu đã có những đóng góp rất đa chiều trong việc gìn giữ tín ngưỡng thờ Mẫu cũng như giải đáp những tranh cãi về việc tín ngưỡng này được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể trong thời gian qua.
 
Tại buổi nói chuyện về tín ngưỡng thờ Mẫu, nhà báo, diễn giả Phan Đăng đã trích dẫn một câu nói kinh điển của Các Mác về Tôn giáo đã trở thành tiền đề cho chủ nghĩa duy vật và vô thần của học thuyết Macxit sau này: “Tôn giáo là liều thuốc phiện của nhân dân”. Từ trước đến nay, chúng ta vẫn luôn hiểu tuyên bố của Mác theo hướng trực tiếp. Tức coi Tôn giáo là một sản phẩm độc hại, là sự cản trở tư duy phát triển của nhân loại. Điều này vẫn được bảo vệ bởi hoàn cảnh của câu nói  xuất phát từ cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và tư sản, giữa những người công nhân với người chủ đầu tư. Tôn giáo ở thời điểm này được các nhà tư bản sử dụng như một công cụ cấm cản các tầng lớp nhân dân, là một thứ vũ khí của giai cấp thống trị dùng để đầu độc con người. Tuy nhiên, rất nhiều ý kiến sau này đã minh oan cho Tôn giáo qua cách nhìn của Mác. Theo đó, Tôn giáo có chức năng giải phóng con người, giải phóng niềm tin, là sự xoa dịu nỗi đau của những người yếm thế.
 
 
Rất nhiều câu hỏi được đặt ra liên quan đến việc nên coi Đạo Mẫu là văn hóa hay mê tín dị đoan, nhà báo Phan Đăng khẳng định, nhân loại luôn coi Tôn giáo và tín ngưỡng là một bộ phận của Văn hóa. Để có một hệ văn hóa đủ mạnh thì cần phải có một Tôn giáo thuần Việt và của riêng người Việt. Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo hay Hồi Giáo dù phát triển rất mạnh ở Việt Nam nhưng thủ lĩnh của chúng đều không phải người Việt. Suy cho cùng, cái mà người ta cần phải nhìn nhận đúng đắn chính ở việc tôn giáo có khả năng dẫn dắt linh hồn, bản ngã con người chứ không phải những lợi ích mà tôn giáo ấy mang lại. Đánh giá như thế, ta sẽ thấy tôn giáo mang bản sắc dân tộc có ảnh hưởng tích cực như thế nào tới đời sống cộng đồng – chứ không phải một thứ tôn giáo ngoại lai, pha tạp. Anh cũng cho rằng, thời điểm bây giờ có rất nhiều những biến tướng diễn ra xung quanh việc thực hành nghi thức Hầu đồng, trong đó có việc lợi dụng nó để phục vụ cho lợi ích kinh tế hay một số thầy đồng có hành vi đe dọa các con nhang đệ tử. Tuy nhiên, theo anh, chúng ta chỉ nhìn vào những thứ tốt đẹp mà tín ngưỡng thờ Mẫu truyền thống và sự bổ sung, phát triển tích cực đem lại, những thứ phi văn hóa, phản văn hóa biến tướng sau này sẽ không thể tồn tại lâu trong một hệ giá trị tốt đẹp như Đạo Mẫu. Đặc biệt là Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ vừa được UNESCO công nhận di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại là Tín ngưỡng thờ Mẫu nguyên bản của người Việt.
 
Sự giải phóng năng lượng
Bàn về sự giải phóng năng lượng mà tín ngưỡng thờ Mẫu đem lại, nhà báo Phan Đăng đã chỉ ra bốn luận điểm lớn xung quanh những tác động của nó đối với tâm thức của người Việt từ cổ xưa đến hiện đại. Đó là sức mạnh giải phóng nữ quyền, giải phóng dân tộc và chủng tộc, giải phóng giới tính và giải phóng mỹ cảm
 
Cũng như các tôn giáo khác, bên cạnh rất nhiều những chức năng, nhiệm vụ thì Đạo Mẫu đóng một vai trò rất lớn trong sự giải phóng năng lượng của con người. Trước tiên theo nhà báo Phan Đăng, chính là việc giải phóng nữ quyền. Dân gian có câu: “Thứ nhất ngồi đồng, thứ nhì lấy chồng làm quan”. Theo tư tưởng phương Đông, vốn coi trọng chức tước thì giấc mộng quan trường trong mỗi người đàn ông là rất lớn. Bên cạnh chí tang bồng của đấng nam tử, việc lấy chồng làm quan, trở thành bà lớn lại là giấc mơ, sự thèm khát rất xa xỉ của những người phụ nữ trong xã hội cũ. Việc khẳng định ngồi đồng hơn lấy chồng làm quan theo nghiên cứu riêng của anh chính là một hình thức giải phóng nữ quyền có trong tín ngưỡng thờ Mẫu.
 
Những người đàn bà khi ngồi trên chiếu hầu có xác trần phàm nhưng hồn tiên thánh, đã tạo ra một sức mạnh vô cùng huyền bí, khiến họ quyền uy hơn trong mắt mọi người. Đó chính là điểm tạo ra sự đối kháng giữa Đạo Mẫu với hệ tư tưởng Nho giáo trong xã hội Phương Đông vốn trọng nam khinh nữ. Chính sự kìm kẹp nữ giới trong quan niệm của đạo Khổng Mạnh đã khiến con người tìm đến chiếu đồng, với mục đích thoát khỏi xã hội, xây dựng quyền uy, làm những thứ mà họ không được làm. Đó chính là sự nối tiếp giữa văn hóa của người Việt với ý thức Mẫu hệ của người Việt cổ, tạo cho tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt một tính nữ quyền rất cao.
 
So sánh với các tôn giáo, tín ngưỡng khác đang tồn tại ở Việt Nam, nhà báo Phan Đăng cho rằng, ngay cả những công trình rất quen thuộc và gắn bó với người Việt như  đình, chùa đều gắn liền với sự hiện diện và uy quyền của nam giới, trong đó, Đình làng chính là tổng hợp tất cả sức mạnh của ý thức nam quyền, đó là quyền lực của các bô lão với giáo lý Đạo Nho, là sự tổng hợp sức mạnh của tín ngưỡng bản địa với học thuyết ngoại lai, biểu hiện cao nhất qua hình thức phạt vạ chửa hoang, chính là điển hình quyền lực của nam giới.
 
Trái với đình, chùa, đền phủ lại là biểu hiện cho sức mạnh nữ giới, điển hình là việc thờ Thánh chủ là Chúa Liễu Hạnh, các thủ nhang đồng đề đều là phái nữ, biểu hiện quyền lực của nữ giới rất rõ. Trong nghi thức hầu đồng, người nữ được thể hiện quyền uy, tín hiệu giải phóng nữ quyền rất rõ nét với một hình thức rất nhân văn.
 
Ở luận điểm thứ 2, diễn giả cho rằng, Tín ngưỡng thờ Mẫu còn góp phần quan trọng trong việc giải phóng ràng buộc dân tộc và chủng tộc. Từ trước đến nay, 54 dân tộc Việt Nam tuy cùng sống trong một mảnh đất chạy dài của sự đồng đều về ý thức dân tộc, nhưng lại chưa thực sự thấu hiểu hết được nhau, giữa các vùng miền vẫn còn rất nhiều cái nhìn xa lạ và miệt thị. Tuy nhiên, ở trong tín ngưỡng thờ Mẫu thì việc này hoàn toàn không còn tồn tại. Ở trên các chiếu hầu, người Kinh hầu những tiên thánh từng là người Dân tộc thiểu số như Chúa Thác bờ: Đinh Thị Vân – người Mường, Chầu bé bắc lệ - Người Nùng, rất nhiều bậc thánh ở Sơn Trang Thượng Ngàn. Đó chính là biểu hiện của việc tôn vinh dân tộc thiểu số, giải phóng những quan điểm về dân tộc luận với tư tưởng mọi dân tộc đều bình đẳng giống nhau.
 
Về vấn đề giải phóng giới tính, diễn giả cho rằng, ở xã hội hiện đại, việc đa dạng giới tính đã trở nên rất bình thường. Những người thuộc giới tính thứ 3 có rất nhiều địa điểm, tổ chức, câu lạc bộ… để có thể gặp gỡ và giao lưu với nhau. Tuy nhiên, ở chế độ phong kiến hà khắc với sự thống trị của Nho giáo trên một nền văn hóa bản địa bền vững thì vấn đề giới tính là một phạm trù bị quản lý rất khắt khe. Theo đó, chế độ phong kiến cho rằng, những người thuộc về nhóm thiểu số về giới tính là những kẻ xác một nơi, hồn một nẻo, là những kẻ cần bị xã hội lên án, trừng phạt. Tuy nhiên, ở trên chiếu đồng, những người này lại có cơ hội được giải phóng khát vọng giới tính của mình. Ví như khi người nữ có tính cách của người nam hóa thân thành những giá nam thần có thể bộc lộ được tất cả những tính cách mạnh mẽ, uy nghi của các đức nam thần. Ngược lại, người nam có tính nữ khi hóa thân vào các bà Chúa lại thể hiện được những nét nữ tính, duyên dáng, cao quý của các nữ thần.
 
Tại buổi nói chuyện, nhà báo Phan Đăng cũng khẳng định, bên cạnh sự giải phóng năng lượng, tín ngưỡng thờ Mẫu còn có giá trị lưu truyền lịch sử qua các giá đồng là những nhân vật lịch sử có thật. Tín ngưỡng của người Việt cũng là biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh bởi nó coi trọng việc giải phóng con người trong khi còn tại thế, những tôn giáo khác như Đạo Phật, Đạo Thiên Chúa… hướng đến việc giải phóng con người ở cõi âm…
 
Sao cứ phải gắn mác UNESCO?
 
 
Nhiều bạn trẻ tham gia tranh luận, có ý kiến cho rằng, việc các tôn giáo khác trên thế giới không cần được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể, nhưng vẫn phát triển rất mạnh, tại sao Việt Nam lại cần có sự phê chuẩn của UNESCO? Trả lời cho thắc mắc của khán giả, diễn giả của buổi tọa đàm cho rằng, việc phê chuẩn văn hóa phi vật thể của UNESCO được đánh giá qua 3 tiêu chí: Đó là các giá trị đang dần bị mai một, các giá trị bị lãng quên nay đã tìm lại được và những giá trị vốn bị hiểu lầm bây giờ được “minh oan”. Anh cho rằng, Phật giáo hay Thiên Chúa giáo bấy lâu nay vẫn là những tôn giáo cực thịnh, vì thế không nằm trong tiêu chí đánh giá của UNESCO nhằm tôn vinh các giá trị văn hóa phi vật thể của nhân loại. Tín ngưỡng thờ Mẫu của Việt Nam dường như hội tụ đủ các yếu tố trên, vì thế việc trình UNESCO công nhận là di sản văn hóa là điều tất yếu để giữ gìn và bảo vệ một tín ngưỡng tốt đẹp của người Việt.
 
Kết thúc buổi trò chuyện, diễn giả, nhà báo Phan Đăng kêu gọi mọi người hãy có một cái nhìn khách quan hơn đối với tín ngưỡng thờ Mẫu. Đồng thời, chung tay giữ gìn tín ngưỡng bản địa của người Việt đã gắn bó với quần chúng từ thời cổ xưa. Trích dẫn từ cuốn “Câu chuyện Do Thái” của Đặng Hoàng Sa: “Có những dân tộc chấp nhận tôn giáo, ngôn ngữ và bản sắc của những người cai trị hoặc hàng xóm để rồi cuối cùng biến mất khỏi lịch sử. Điều đó cho thấy rằng một bản năng yếu kém không có chỗ tồn tại trong thế giới của quyền lực...", diễn giả của buổi nói chuyện cho rằng, việc có một văn hóa bản địa mạnh chính là nền tảng để bảo vệ lịch sử, bảo vệ độc lập dân tộc.
 

Phạm Trang

Từ Khóa :