Khởi nghiệp ở Việt Nam: Hạt giống tốt cũng cần “nước dinh dưỡng”


Khởi nghiệp ở Việt Nam: Hạt giống tốt cũng cần “nước dinh dưỡng”

P.V 0:24 13/11/2017

Mặc dù lời kêu gọi xây dựng một “quốc gia khởi nghiệp” ngày càng nhiều, nhưng dường như yếu tố chính phủ trong hệ sinh thái khởi nghiệp vẫn khá phức tạp.

Chỉ mới cách đây vài năm, khởi nghiệp dường như là một điều gì đó lạ lẫm, “chuyện nhà ai nhà nấy rạng”. Nhưng vài năm trở lại đây, các chương trình chính sách hướng tới một “quốc gia khởi nghiệp” ngày càng dày dặn, giúp các doanh nghiệp (DN) có nhiều điều kiện để phát triển, các ý tưởng kinh doanh mới có nhiều tiềm năng để khai phá. Nào là Quyết định số 844 năm 2016 về việc phê duyệt đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025”, Nghị quyết 35 năm 2016 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, rồi Nghị quyết số 76 năm 2016 về xây dựng chương trình khởi nghiệp quốc gia… Xuống dưới hơn thì có những văn bản như đề án 544 của Bộ Khoa học và Công nghệ nhằm hoàn thiện thể chế, tọa điều kiện cho môi trường đầu tư, môi trường khởi nghiệp.

Mục tiêu là, theo ông Hoàng Xuân Hòa - Vụ trưởng Vụ Kinh tế Tổng hợp, Ban Kinh tế Trung ương, tới năm 2020 đạt khoảng 1 triệu DN khởi nghiệp.

Tuy nhiên, tại Diễn đàn Khởi nghiệp lần thứ III với chủ đề “Hệ sinh thái Khởi nghiệp: mô hình và hiệu quả thực tiễn”, ông Trần Văn Tùng - Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ - cũng thừa nhận: Cuộc Cách mạng công nghệ 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới đã mở ra kỷ nguyên mới cho sự phát triển của doanh nghiệp, song hiện Việt Nam vẫn bị tụt hậu xa và mất một thời gian dài nữa mới có thể hoàn thiện cuộc cách mạng công nghiệp 3.0 trước đó.

Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), năm 2015 chỉ có 18,2% người trưởng thành Việt Nam có ý định khởi nghiệp trong vòng 3 năm tới, còn năm 2014 chỉ đạt 2%, thấp hơn nhiều so với mức bình quân chung 12,4% của các nước. Chỉ số đổi mới ở các hoạt động KN của Việt Nam thuộc loại thấp (16,5%), xếp thứ 50/60 nền kinh tế.

Có thể thấy, vô số các cuộc thảo luận được đưa ra, những thách thức không dễ vượt qua vẫn còn ở trạng thái cần được tháo gỡ. Người thì cho rằng “không tiền đố mà làm nên”, số khác cảm thấy dường như sự hỗ trợ của chính phủ vẫn chủ yếu nằm ở dạng bàn giấy là chính.

Các quỹ hỗ trợ cho sáng tạo và khởi nghiệp mở màn rất hoành tráng, nhưng “đầu ra” lại khá tậm tịt. Theo VTV trích lời một lãnh đạo ngân hàng, 70% doanh nghiệp khởi nghiệp không tiếp cận được vốn vì gặp vướng mắc khi đi vay tại ngân hàng, điều kiện nhiều, lãi suất cao, hầu hết cho vay kỳ hạn ngắn.

Hay như TP.HCM có Quỹ đầu tư Khởi nghiệp và Sáng tạo của TP.HCM (HSIF) ra mắt từ tháng năm 2016 với số vốn khủng 100 tỷ đồng, nhưng hơn một năm sau vẫn đang chờ… hành lang pháp lý để chính thức hoạt động.  

Mặc dù có một vài quỹ đầu tư nội địa, nhưng thực chất, chưa quỹ nào hoạt động đúng như ý nghĩa của nó. Các quỹ đầu tư mạo hiểm lớn đang hoạt động tại Việt Nam chủ yếu vẫn từ nước ngoài, như DFJ, IDG… khiến giới khởi nghiệp vô cùng sốt ruột.

Bà Thạch Lê Anh - Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh, Chủ nhiệm đề án Thung lũng Silicon Việt Nam - cho rằng: Để startup có thể phát triển thì vấn đề đầu tư, đặc biệt là đầu tư mạo hiểm giai đoạn đầu, là vô cùng quan trọng. Chia sẻ về bài học kinh nghiệm từ Chính phủ các nước, bà Lê Anh cho biết, trong tất cả các quốc gia có hệ sinh thái startup đặc biệt phát triển như Mỹ, Singapore, Hàn Quốc, Anh, Ấn Độ... đều có sự tham gia của Chính phủ và không chỉ với vai trò chính sách mà dưới vai trò nhà đầu tư cho Quỹ.

Nếu Việt Nam muốn tập trung phát triển startup để làm đòn bẩy kinh tế, Chính phủ cần tham gia đầu tư trực tiếp để kích thích tăng trưởng về số lượng và chất lượng startup, đặc biệt là giai đoạn đầu. Đồng thời, cần thêm nhiều chính sách ưu tiên cho các nhà đầu tư vốn với các dự án khởi nghiệp.

Cũng nhấn mạnh về vấn đề nguồn vốn với các dự án khởi nghiệp nhưng TS. Nguyễn Trung Dũng - TGĐ Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Công nghệ Bách khoa Hà Nội - BK Holdings - lại nhìn vấn đề theo góc độ khác.

Theo ông Dũng, các dự án khởi nghiệp không chỉ gặp vấn đề về đầu tư vốn mà còn gặp khó khăn trong vấn đề đầu tư từ đâu. “Chúng ta không thể bắt chước bất kể mô hình nào trên thế giới mà chỉ là sự học hỏi. Bởi hạt giống của chúng ta không giống như bất kể mô hình nào trên thế giới. Ví dụ như ở Israel thì đa số các startup đều là các kỹ sư đã có kinh nghiệm ít nhất là 5 năm đi làm nên khi họ khởi nghiệp sự thành công cao hơn rất nhiều. Trong khi các startup ở Việt Nam lại hầu hết là các sinh viên nên tỷ lệ thất bại là khá cao.”

Do đó, ông Dũng cho rằng cần có tính liên kết trong chu trình từ ươm tạo tới khi khởi nghiệp. “Việc giáo dục từ cấp lãnh đạo về đổi mới sáng tạo, tới startup và kể cả các nhà đầu tư thiên thần là điều cần thiết” - ông nhấn mạnh. “Khi có đầy đủ hạt giống tốt và những nhà lãnh đạo tốt thì việc gọi vốn kể cả trong nước và ngoài nước sẽ tốt hơn rất nhiều.” Có thể ví von, hạt giống tốt thì không thiếu, cái thiếu là nguồn nước tưới tắm và mặt đất đủ chắc để rễ bám chặt.

Nhưng thực ra cũng chẳng phải đi đâu xa tìm nhà đầu tư cả. Như ông Đỗ Việt Hà, Phó Trưởng Ban quản lý Khu Nông nghiệp Công nghệ cao TP.HCM, từng phát biểu rằng: Chính phủ và Bộ KH&CN phải là những nhà đầu tư mạo hiểm lớn nhất cho phong trào khởi nghiệp, vì trước nay họ vẫn đầu tư và thất bại nhiều trong những doanh nghiệp nhà nước và các công trình khoa học làm ra chỉ để cất trong tủ.

Thiếu môi trường, các startup gần như vẫn phải tự mò mà đi. Cực chẳng đã mới đành phải khăn gói “mang chuông đi đánh xứ người”, thậm chí là hoạt động tại Việt Nam nhưng đăng ký doanh nghiệp và đóng thuế cho nước ngoài. Khi con đường đến với vốn nói riêng, môi trường kinh doanh nói chung vẫn còn được rải bằng vô số “giấy phép con” và vô vàn lý do để “chậm nữa”, thì chất xám sẽ phải tự động tìm đến nơi sinh lời nhiều nhất, đơn giản vậy thôi.


P.V