Khoa học Việt Nam: Từ bán đảo tới ốc đảo, lúc nào cũng lảo đảo



Khoa học Việt Nam: Từ bán đảo tới ốc đảo, lúc nào cũng lảo đảo

Phạm Bích San 13:41 15/12/2012

Tôi tin rằng các nhà khoa học sẽ có các ốc đảo để có thể được làm việc trong những điều kiện không khác xa với điều kiện làm việc ở nước ngoài. Nguyễn Quân, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, 9/12/2012

Nhân việc có tới 60% bạn đọc khuyên giáo sư Thuận, một nhà khoa học Việt dạy học ở Hàn Quốc đang trăn trở xem có nên về nước hay không, chớ có về vào thời điểm này vì ngoài việc điều kiện nghiên cứu và thu nhập chưa tương xứng với nước ngoài thì việc sử dụng người tài ở nước ta còn chưa đặt đúng mức tài năng, tối chủ nhật, trong mục ‘ Dân hỏi Bộ trưởng trả lời’ trên VTV1, ông Nguyễn Quân đã trình bày cho công chúng biết sự hiểu của ông về khoa học qua việc ông nghĩ như thế nào về việc mời các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài về nước làm việc.
 
Mọi việc quả là bất ngờ với những suy nghĩ của người chịu trách nhiệm về chính sách khoa học và công nghệ nước nhà… Cho nên có lẽ cũng nên nhìn lại tư duy nhân loại về vai trò của khoa học và tổ chức khoa học, trên thế giới cũng như ở Việt Nam.
 
Trước hết, khái niệm nhà khoa học làm việc trong tháp ngà vốn có từ thời trung cổ để chỉ hoạt động khoa học của những người quên hết sự đời, ngồi ở chỗ riêng tư nhằm thoả mãn với niềm ham muốn khám phá của mình. Nhưng từ lúc Napoleon trong chiến dịch Ai Cập có mang theo trong quân đội của mình các nhà bác học, thì từ lúc đó hoạt động của nhà khoa học đã hoàn toàn thay đổi. Khoa học phải có trách nhiệm ‘đóng góp vào sự hùng cường của tổ quốc’ là những gì mà Napoleon trong chiến dịch nước Nga năm 1912 đã viết từ Vitepsk về cho nhà toán học Laplace. Kể từ đó, càng ngày các nhà khoa học càng tham dự nhiều hơn vào việc giải quyết các vấn đề của cuộc sống dựa vào kiến thức lớn lao của mình, dựa vào sự lao động quên mình của họ. Để rồi sau đại chiến thế giới thứ hai, năm 1945, khoa học trở thành một động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển của các quốc gia, đem lại một cuộc sống ngày càng đầy đủ hơn cho con người.
 
Có điều, bản chất của sự sáng tạo nói chung và của khoa học nói riêng là dựa vào lao động trí óc tập trung của các cá nhân nhà khoa học. Khi tư duy, nhà khoa học cần sự riêng tư và không muốn bị quấy rầy bởi những người khác và bởi những hoạt động khác không liên quan tới vấn đề họ đang suy nghĩ. Ngoài lúc đó ra, họ cũng cần cao độ sự thảo luận với các đồng nghiệp để tìm kiếm ý tưởng mới, cũng như sự trình bày các suy nghĩ của mình cho sinh viên để nhận được sự phê phán và kiểm chứng từ các thế hệ trẻ, những người về nguyên tắc sẽ có những cách tiếp cận không như họ. Do vậy từ sau đại chiến thế giới thứ hai các viện và trung tâm, phòng thí nghiệm nghiên cứu được xây dưng chủ yếu trong các trường đại học để đáp ứng được các yêu cầu dường như trái ngược nhau đó.
 
Ở Việt Nam chúng ta, nền khoa học hiện đại có thể nói là bắt đầu từ năm 1903, khi trường Đại học Đông dương được thành lập. Các nhà khoa học vừa giảng dạy, vừa tiến hành nghiên cứu khoa học. Năm 1954 khi xây dựng lại các trường đại học ở miền Bắc, theo mô hình Liên xô, người ta cũng xây dựng lần lượt một số viện nghiên cứu tách rời với các trường đại học. Cao điểm là việc thành lập Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam những năm 70 thế kỷ trước với một hệ thống các viện trong đó, làm nên một hệ thống các cơ quan nghiên cứu độc lập với giảng dạy. Các nhà khoa học lớp đầu tiên và sau đó một thời gian dài chủ yếu vẫn từ trường đại học đi ra. Ở các viện họ được về danh nghĩa là chuyên nghiên cứu, còn giảng dạy thì tùy, không bắt buộc. Sự gắn kết giữa viện và trường giống như kiểu bán đảo, càng ngày sự nối kết với nhau càng mỏng đi.
 
Bên cạnh đó, với định hướng vừa hồng vừa chuyên và bình quân chủ nghĩa, vai trò của chuyên môn tuy cần thiết nhưng không phải quyết định và tưởng thưởng cho lao động ai cũng như ai, ba năm một lần lên lương trừ khi được đề bạt khiến các nhà khoa học, cả làm giảng dạy ở trường lẫn nghiên cứu ở viện, càng ngày càng bị phân tâm bởi nhiều hoạt động không liên quan đến khoa học. Do vậy đòi hỏi chất lượng lao động khoa học suy giảm dần, nhất là đánh giá chất lượng đó là khó, khiến cho người kém cũng có thể dễ dàng được ngộ nhận. Yếu tố tài năng không được coi trọng trong khi yếu tố làm nhiều việc vặt có tính thủ công, đơn giản và cách sống sao cho được lòng mọi người lại đựơc đề cao. Nhất là yếu tố tham gia quản lý: khi đó thì vừa có lương tăng vọt vừa có đầu tư cũng tăng theo cho việc nghiên cứu.
 
Năm tháng qua đi hình thành nên các đặc tính của nền khoa học Việt Nam hiện đại: được đầu tư nhiều của xã hội (đến mức không giải ngân được ngay cả ở cấp trung ương, còn ở địa phương thì miễn bàn), nhiều nhà khoa học, cũng như các nhà khoa học đi làm quản lý, gần như không có kết quả có ý nghĩa khoa học được thể hiện qua công trình công bố quốc tế , đăng ký phát minh hoặc công nghệ bán được.
 
Nhưng từ đặc điểm của lao động khoa học như thế và từ đặc điểm tổ chức khoa học Việt Nam không giống ai trong thế giới hiện đại này như thế (Liên xô đã sụp đổ từ lâu rồi), mà đi đến ý nghĩ xây dựng các ốc đảo cho các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài về nước làm việc thì đây đã là một ý tưởng rất siêu thực. Vì ba lý do.
 
Thứ nhất là các nhà khoa học trở về làm việc trong các ốc đảo dựng lên cho họ thì mối liên hệ của họ với các nhu cầu thật của công cuộc phát triển đất nước đối với họ không trực tiếp, mà là thông qua những đặt hàng của ai đó hay cơ quan nào đó. Nhất là khi yếu tố thị trường chưa hiện diện đầy đủ và chưa chi phối kết quả lao động của nhà khoa học như hiện nay và có lẽ còn như thế trong một thời gian rất dài nữa. Sự hình thành nhu cầu giải quyết bài toán thực của xã hội vốn rất tự nhiên khi người ta sống cùng xã hội và chịu sự điều tiết của thị trường sẽ yếu đi và lụi dần. Thiếu động lực đó, cái cầu đó, họ sẽ cùn dần đi.
 
Thứ hai, khoa học hiện đại cần sự cộng tác của nhiều người. Các nhà khoa học trở về sẽ cộng tác với ai khi mà họ được hưởng một chế độ làm việc và đãi ngộ khác hẳn với những người đang cộng tác với họ. Ví dụ, họ có thể yêu cầu những người cộng tác thực hiện gấp một việc gì đó được không trong khi những người kia lại bận đi họp chi bộ, cái quyết định nhiều đến đánh giá công việc hiện nay, chẳng hạn. Hoặc liệu họ có thể yêu cầu những người khác làm việc hết giờ trong khi đồng lương đang chỉ đóng góp không quá 1/3 trong thu nhập của đồng nghiệp trong nước của họ. Đơn giản là lương tâm họ, cái rất quan trọng trong đời sống những nhà khoa học chân chính, không cho phép họ đòi hỏi như vậy. Và các đồng nghiệp trong nước của họ cũng không thể chịu đựng lâu quá sự bất bình đẳng trong công việc và trong đãi ngộ như vậy.
 
Cuối cùng thì sự ưu đãi đó sẽ kéo dài được trong bao lâu là điều khó đoán định? Có lẽ có thể ưu đãi lâu dài cho không quá 10 người, những người được giải thưởng Field hay Nobel chẳng hạn. Nhưng để phát triển khoa học cần rất nhiều người mà ngay cả một quốc gia hùng mạnh có nhiều giải Nobel như Liên Xô, với ưu đãi kiểu cộng sản chủ nghĩa theo nhu cầu đối với các viện sỹ hàn lâm, thì cuối cùng nền khoa học đó cũng đã phải sụp đổ. Đơn giản là hết tiền, không kham nổi. Nên có thể chắc chắn rằng khi thời kỳ ưu đãi hết thì các nhà khoa học trở về sẽ rất khó khăn, hệt như các đồng nghiệp trong nước của họ. Trong khi đi ra nước ngoài thì sẽ khó hơn vì họ không còn ở đẳng cấp như xưa nữa, với chất lượng lao động được thị trường quốc tế chấp nhận nữa. Cơ may với họ khi đó chỉ còn là đi làm quản lý để hưởng những ưu đãi lớn lao mà hệ thống khoa học Việt Nam dành cho vị trí quản lý. Cũng có nghĩa là không làm cái  việc mà Việt Nam cần đến họ và mời họ về nữa.
 
Cho nên nền khoa học chúng ta đang trong tình trạng rất khó khăn và trì trệ, điều này ai cũng biết và cũng có thể thông cảm được. Và sự cải tổ nền khoa học và công nghệ nước nhà hiện đang vô cùng cấp bách, cũng là điều mà người làm khoa học nào cũng chờ mong. Nhưng từ sự khó khăn đó mà đưa ra các giải pháp ít khả thi như thế e rằng vấn đề phát triển khoa học đã không được giải quyết, mà khó khăn lại càng chồng chất thêm cho sự phát triển khoa học nước nhà mà thôi.
 
Tuy nhiên, một sự trao đổi cởi mở như vậy trên các phương tiện thông tin đại chúng quả là vô cùng hữu ích, soi sáng được nhiều điều còn chưa rõ trong quá trình hình thành chính sách khoa học nước nhà. Nên càng thấy giá trị của chỉ thị của Thủ tướng ngày 13/12 khi yêu cầu các bộ trưởng phải tham gia tích cực vào mục Dân hỏi Bộ trưởng trả lời hàng tuần.
Một yêu cầu rất là kịp thời.
 

Phạm Bích San

Từ Khóa :