Khi du lịch “trở mặt”



Khi du lịch “trở mặt”

Lục Kiếm 0:10 30/7/2018

Các kỳ nghỉ luôn trong tình trạng lộn xộn. “Du lịch quá đà” (overtourism) không phải là vấn đề mới.

Chẳng hạn, Barcelona từ lâu đã là trung tâm của những mối quan ngại về sự tăng trưởng quá nhanh của du lịch. Năm 2017, Barcelona đã đón khoảng 30 triệu lượt du khách nghỉ qua đêm, trong khi số dân cư trú ở đây chỉ là 1.625.137 người.

Sát sườn hơn, là hình ảnh khu du lịch biển Sầm Sơn đầu kỳ nghỉ ken đặc người, Hội An “nghẹt thở”, ga cáp treo hàng dài người, giá phòng leo thang, rác chất thành núi… đã trở nên quen thuộc trong nhiều năm qua.

Điều đó dẫn đến hai hiện tượng đối lập: một mặt phát triển du lịch như một phong cách sống, mặt khác là các cuộc biểu tình chống lại tình trạng du lịch quá mức và tác động đến người dân địa phương.

Trong khi nhiều du khách muốn “sống như một người bản địa” để có trải nghiệm chân thực, thì nhiều cư dân ở những nơi ấy lại cảm thấy cuộc sống riêng và bản sắc văn hóa truyền thống của họ đang dần bị biến mất trước làn sóng các cửa hàng lưu niệm, đám đông, xe cộ và quán rượu. Họ cũng không thoải mái khi buộc phải san sẻ không gian, đặt cơ sở hạ tầng công cộng vào tình trạng quá tải.

Đó là vấn đề thực sự toàn cầu. Palma de Mallorca, Paris, Dubrovnik, Kyoto, Berlin, Bali và Reykjavik đang “phát hoảng” trước làn sóng du lịch. Gần đây, chính quyền Thái Lan đã buộc phải hành động khi số lượng lớn khách du lịch đến thăm vịnh Maya, địa điểm trở nên nổi tiếng nhờ bộ phim The Beach của đạo diễn Danny Boyle, dẫn đến những thiệt hại về môi trường gây sốc. Hay như hoạt động du lịch chỉ được triển khai vào một khoảng thời gian nhất định ở ngôi làng cổ Bukchon Hanok, Hàn Quốc.

Du lịch quá đà (overtourism) là như thế nào?

Về cơ bản, đó là sự tăng trưởng du khách quá mức dẫn đến tình trạng quá tải ở những khu vực mà cư dân phải chịu hậu quả của du lịch theo mùa và theo phong trào, đã thay đổi vĩnh viễn lối sống của họ, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các dịch vụ công cộng và hạnh phúc xã hội nói chung. Du lịch quá mức làm tổn hại đến cảnh quan, phá hoại các bãi biển, đặt cơ sở hạ tầng vào tình trạng quá tải và thổi phồng giá cả bất động sản. Đó là một vấn đề cực kỳ phức tạp được đơn giản hóa.

Nó có thể có tác động theo nhiều cách. Chẳng hạn, ngành công nghiệp du lịch quốc tế đưa hàng ngàn khách mỗi ngày đến các điểm tham quan. Thứ cộng đồng ở đó nhận được từ du khách lại khá ít so với những gì họ phải chịu đựng do những cuộc “hành hương” tạo ra ô nhiễm.

Cư dân thành phố cũng chịu chi phí phát triển du lịch. Khi các thành phố chuyển đổi để phục vụ cho khách du lịch, thì cũng là lúc gia tăng đầu cơ bất động sản và tăng chi phí sinh hoạt cho cộng đồng địa phương. Những ứng dụng kiểu như AirBnB có thể được những con người xê dịch yêu thích vì đưa ra mức giá cạnh tranh, nhưng mặt khác, chính chúng lại ép giá xuống và vô hình trung, tạo nên những nhóm du lịch “bụi”, tức là chi tiêu thấp và tìm cách cắt giảm mọi thứ có thể.

Người Tây Ban Nha phản đối du khách.

Ảnh: Reuters

Amsterdam muốn có hành động trực tiếp để ngăn chặn điều này bằng cách cấm cho thuê ngắn hạn và chỉ đạo hành khách đi du lịch xa trung tâm thành phố. . AirBnB cũng đang nỗ lực giải quyết các vấn đề mà họ bị buộc tội đã tạo ra.

Mọi chuyện trở nên tồi tệ hơn bởi thực tế là các điểm đến chủ yếu hầu như không chuẩn bị để đối phó với tình trạng dư thừa. Theo nhà xã hội học người Ý Marco d’Eramo, vào năm 1950, có 15 điểm đến được 98% du khách quốc tế đến thăm, trong khi năm 2007 điều này đã giảm xuống còn 57%. Điều này cho thấy sự mở rộng nhanh chóng của du lịch toàn cầu ngoài các điểm đến đã được thiết lập.

Tình trạng quá đông và việc thành lập các doanh nghiệp xung quanh hai chữ “du lịch” như câu lạc bộ, quán bar, cửa hàng lưu niệm đã dẫn đến sự ồn ào cũng như làm giảm không khí độc đáo của các điểm đến, dẫn đến áp lực quản lý đám đông và chất thải.

Rõ ràng, du lịch mang lại việc làm, đầu tư và lợi ích kinh tế cho các điểm đến. Nhưng cái gì quá cũng không tốt. Chính quyền địa phương và các cơ quan lập kế hoạch cho đến nay nhìn chung là bất lực để đối phó với ảnh hưởng mạnh mẽ của chuỗi cung ứng du lịch toàn cầu.

Điều này dẫn đến hiện tượng gọi là “nỗi ám ảnh du lịch” (tourist-phobia) – được Manuel Delgado đưa ra lần đầu tiên từ hơn một thập kỷ trước, ám chỉ sự phản kháng, không tin tưởng và khinh miệt đối với khách du lịch.

Đối phó với “dư thừa du lịch”

Đối phó với tình trạng dư thừa bây giờ là một ưu tiên. Nhưng bất chấp những lời kêu ọi, đám đông du khách vẫn đổ xô đến các thành phố, bãi biển và những danh lam thắng cảnh nổi tiếng.

Quản lý dòng chảy của khách du lịch có vẻ là một nhiệm vụ bất khả thi. Nhưng một số thành phố đã thực hiện các biện pháp quyết liệt để hạn chế ảnh hưởng của tình trạng du lịch quá mức, bao gồm việc đưa ra khoản thuế phí mới, tăng tiền phạt và giảm marketing, thay vào đó, tập trung vào nhóm thu nhập cao chiếm tỷ lệ ít trong xã hội, thay vì các nhóm lớn thu nhập thấp.

Ảnh: Twitter

Nhưng quản lý du lịch thừa mứa cũng là con dao hai lưỡi. Nếu khách du lịch giảm đột ngột và đáng kể có thể dẫn đến hậu quả về kinh tế.

Du lịch thừa thãi là trách nhiệm chung. Nhưng phải bắt đầu từ sự thừa nhận, ngay từ cấp quản lý, rằng: tăng trưởng là tốt nhưng cần giới hạn. Ưu tiên các phúc lợi của cư dân địa phương trên nhu cầu du lịch. Phát triển du lịch sẽ cần tương ứng với khả năng xử lý hậu quả do du lịch phát sinh. Và khách du lịch cũng cần là những con người lịch sự, kiểu như một học sinh muốn lên lớp thì ít ra cũng phải có hạnh kiểm… trung bình trở lên.

Có lẽ, du lịch thái quá là triệu chứng của sự tăng trưởng GDP, tính di động và chủ nghĩa hưởng lạc. Do đó, khi quy hoạch một thành phố, không chỉ đơn giản là tập hợp không gian của những người thường trú ở đó, hay xây nhà cao tầng, phát triển mấy khu đô thị là xong, mà còn phải sẵn sàng đảm bảo rằng nó đủ khả năng để đón những vị khách xa lạ đến thăm thú.


Lục Kiếm

Theo The Conversation

Từ Khóa :