Hầu đồng - Nỗi lo lớn sau khi được nâng tầm di sản

Hầu đồng - Nỗi lo lớn sau khi được nâng tầm di sản

Minh Phương 3 tháng trước

Song hành với niềm hạnh phúc, sự vui mừng khôn xiết khi đón nhận tin “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” (hay đạo Mẫu) được UNESCO chính thức công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại là những băn khoăn, lo lắng tột độ. Người ta lo đạo Mẫu sẽ dễ dàng bị thương mại hóa trong cơ chế thị trường vì hầu đồng (một trong những yếu tố cấu thành) có thể bị biến tướng để cá nhân trục lợi.

Nhận diện giá trị của đạo Mẫu
 
Nhân sự kiện di sản “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” được ghi danh là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại ngày 1/12 vừa qua, Ban quản lý Phố cổ Hà Nội phối hợp với Văn phòng đại diện UNESCO tại Việt Nam và Diễn đàn hát văn Việt Nam tổ chức chương trình giới thiệu văn hóa “Tín ngưỡng thờ Mẫu trong tâm thức người Việt”.
 
Trong khuôn khổ chương trình, GS.TS Nguyễn Chí Bền – Nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia  Việt Nam đã chia sẻ về quá trình thành lập, bảo vệ hồ sơ sau khi đệ trình UNESCO công nhận di sản “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt" là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Giáo sư đặc biệt nhấn mạnh những giá trị cốt lõi của đạo thờ Mẫu và những yếu tố cấu thành bên trong.
 
Ban thờ Mẫu
 
Thờ Mẫu là tín ngưỡng dân gian của Việt Nam, có lịch sử lâu đời, đang được thực hành phổ biến và đa dạng ở khắp các vùng miền trong cả nước cũng như cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu là cách người dân thể hiện mong ước, nguyện cầu tài lộc, may mắn, sức khỏe…
 
GS. TS Nguyễn Chí Bền cho biết: “Giá trị cốt lõi của tín ngưỡng thờ Mẫu là đề cao người Mẹ, tình thương của Mẹ nên được hội đồng UNESCO đánh giá rất cao. Hồ sơ của Việt Nam khi đưa ra được thông qua nhanh bởi 24/24 thành viên của hội đồng, trong khi đó hồ sơ của các di sản khác phải bàn cãi rất căng thẳng. Di sản này được coi như một phần bản sắc văn hóa Việt Nam”.
 
Cũng theo giáo sư, các giá trị khác của tín ngưỡng thờ đạo Mẫu là hệ thống những sáng tạo văn hóa rất tiêu biểu như nghệ thuật, sáng tác văn chương nhằm hiện thực hóa một nhân vật truyền thuyết. Các nhân vật phụng thờ bao giờ cũng được thiêng hóa, lịch sử hóa, huyền thoại hóa. Dân gian dùng điệu múa, bài hát, trang phục để thể hiện nhân vật ấy. Đó đều là những sáng tạo văn hóa. Tín ngưỡng thờ Mẫu còn có sự dung nạp của nhiều sinh hoạt văn hóa, các tín ngưỡng khác như thờ Trần triều.
 
Quang cảnh một buổi hầu đồng
 
Hầu đồng hay lên đồng là di sản văn hóa phi vật thể đặc biệt của Việt Nam. Nói đến tín ngưỡng thờ Mẫu thì không thể không nói đến hầu đồng. Tuy nhiên không được coi hầu đồng là tín ngưỡng thờ Mẫu.
 
GS.TS Nguyễn Chí Bền lưu ý: “Tín ngưỡng thờ Mẫu còn có những nghi thức thờ cúng khác, không chỉ mỗi hầu đồng. Hầu đồng cùng với trang phục, điệu múa, lời ca… là thành tố rất đặc biệt của tín ngưỡng thờ Mẫu”. Hiện nay nhiều người còn hiểu sai, coi hầu đồng với tín ngưỡng thờ Mẫu là một. Vấn đề cực kỳ quan trọng đặt ra là làm sao để xã hội, thế hệ trẻ hiểu được giá trị đích thực của tín ngưỡng thờ Mẫu. “Có hiểu mới xác định được thái độ bảo vệ, phát huy kể cả những cái chúng ta thấy phức tạp nhất như ranh giới mong manh giữa tín ngưỡng và mê tín của hầu đồng” – giáo sư nói thêm.
 
Nỗi lo lớn sau khi được nâng tầm di sản
 
Trước khi trở thành di sản quốc gia và di sản đại diện cho nhân loại, có một thời gian khá dài nghi thức hầu đồng bị cấm đoán và suy yếu do bị coi là mê tín dị đoan ở Việt Nam. Nhưng cấm thì cấm, tín ngưỡng thờ Mẫu trong nhân dân vẫn được thực hành và lưu truyền bằng nhiều hình thức. Cũng nhờ thế mà tinh hoa và giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu còn lưu giữ được cho đến nay.
Nhưng ngay lúc này, khi vừa được UNESCO công nhận chưa lâu, giới nghiên cứu khoa học cũng như những người đang hoạt động thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ lại lo nạn “buôn thần bán thánh” quay về, có thể phát triển rẩm rộ và khó kiểm soát.
 
Việc lợi dụng thánh thần để dọa nạt, bắt bớ, sai khiến những người nhẹ dạ, cả tin là vấn đề của mọi hình thức tôn giáo, tín ngưỡng. Trong quá khứ, nhiều gia đình ly tán, phá sản, nợ nần chồng chất cũng chỉ vì mù quáng tin theo những người tự xưng là “ông đồng, bà cốt”, chấp nhận chi trả hàng chục, hàng trăm triệu cho những giá hầu mong cầu lợi lộc, công danh, tiền tài, phú quý… Vì lý do này, nhiều người lo sợ có những kẻ lợi dụng danh tiếng di sản để trục lợi cá nhân, bóp méo giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ.
 
GS.TS Nguyễn Chí Bền
 
“Ngay sau khi rời phòng họp của UNESCO, tôi phải thưa thật, chính tôi cũng sợ điều ấy. Những năm trước đây đã có các biện pháp quản lý rất nghiêm với sinh hoạt văn hóa này. Cái khó nhất là để bản thân những ông đồng, bà đồng phải nhận thức được đường biên cần thiết, ranh giới và cái ngưỡng của tín ngưỡng – mê tín. Nếu để nó sang một thái cực khác thì chắc chắn rất khó quản lý. Trên cơ bản ranh giới giữa tín ngưỡng và mê tín rất mỏng manh, nhưng với tín ngưỡng thờ mẫu ranh giới này còn mỏng manh hơn nữa. Đấy là cái lo ngại thật sự” - GS.TS Nguyễn Chí Bền tâm sự.
 
Dòng chảy và sự tiếp biến văn hóa trong tín ngưỡng thờ Mẫu vừa làm phong phú thêm giá trị văn hóa, nhưng cũng là thách thức trong vấn đề quản lý của những người làm công tác văn hóa. Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu trong dân gian có sự biến thiên theo mỗi vùng miền, địa phương chứ không đồng nhất. Ví dụ tín ngưỡng thờ Chử Đồng Tử - Tiên Dung thường được thấy ở vùng thường xuyên vỡ đê. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương có ở những nơi xuất hiện dấu tích của nền văn hóa thời Đông Sơn. Cách thực hành nghi lễ của mỗi ông đồng, bà đồng trên các vùng miền cũng khác nhau, không có một quy chuẩn chung khiến hầu đồng càng dễ bị lợi dụng, biến tướng.
 
Thanh đồng Bùi Văn Kiên (thủ nhang đền Đệ Ngũ Bảo Linh) chia sẻ những cảm xúc khi biết tin đạo Mẫu được UNESCO công nhân là di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại: “Tôi rất mừng và cũng rất lo. Mừng là đạo của chúng tôi đã được quảng bá cho thế giới biết. Mừng là không bị cấm đoán. Nhưng cũng có những cái buồn, cái lo sợ. Lúc cấm đoán chúng tôi vẫn giữ được lề thói ông cha dạy bảo. Nhưng bây giờ được tự do, sợ rằng có những người dựa vào đó bói toán, phán truyền rồi làm lung tung, làm láo, cậy có bằng sắc không ai dám sờ đến. Tôi cảm thấy đồng bóng bây giờ lai căng rất nhiều”.
 
Nghi thức hầu đồng thường diễn ra ở những nơi có không gian linh thiêng như đền, phủ
 
Những ông đồng, bà đồng như thanh đồng Bùi Văn Kiên nhiều khi cũng thấy khó chịu, chướng tai gai mắt với những biến tướng của hầu đồng nhưng ít người nói ra. Vì nói ra có người hiểu người không, người không hiểu lại cho rằng mình đang nói xấu, gièm pha “đồng nghiệp”.
 
“Thời nay mọi thứ như ngược lại hết. Có những người mới vào đồng không thích học những cái cổ mà tự làm, tự nghĩ ông thánh ông thần phải thế này thế kia thì chính là biến tướng. Cũng như lề lối hầu. Ví dụ giá Chầu Bà phải khép chân đi lùi, không quay ngang… nhưng nhiều người hầu cứ đi dạng chân ra, lại nhảy như đi đánh dậm. Chúng tôi hầu phải có khuôn phép chứ không phải thích như nào thì được thế. Như bây giờ có khi bà cô ông mãnh nhà mình cũng được lên đồng. Nếu chúng tôi tham gia góp ý thì lại bảo “Ghen vợ ghen chồng không bằng ghen đồng ghen bóng”. Nhưng không nói ra thì cái sai ấy cứ thế nhân lên. Tôi chỉ mong các thanh đồng hiểu và nên học những điều cốt đáy” – thanh đồng Bùi Văn Kiên chia sẻ thêm.
 
Bàn luận về những biến tướng của hầu đồng sẽ làm sụt giảm, mất đi giá trị của đạo Mẫu, thanh đồng Bùi Văn Kiên chỉ ra một vài điểm chính mà nhiều người đang hiểu sai về hầu đồng. Từ những sai lầm trong cách hiểu, cách nghĩ nên mới có nhiều cá nhân lợi dụng điều đó để lôi kéo, kiếm lợi cho bản thân,
 
Theo thanh đồng Bùi Văn Kiên, tín ngưỡng thờ mẫu là tôn vinh người Mẹ, thờ chữ chung trinh của người Mẹ. Người Mẹ là cao cả nhất. “Chúng tôi hầu là hầu bóng, hầu quần áo, tấm khăn của các Ngài chứ không hầu một người trần mắt thịt. Tôn vinh là tôn vinh tinh thần, công trạng của những người có công với nước.  chứ không phải. Sợ nhất là có những người phán truyền “nhà mày không lễ thì mày chết”, “phải làm cái này, cái kia”. Đạo nhưng phải thực chứ đừng cậy bóng thánh để làm tướng làm vương, bắt bớ này khác. Không có thánh nào, mẫu nào bắt hết” – ông nói.
 
Việc hầu thánh là thành tâm, ý thích, sở nguyện cá nhân, như người ta đi lễ chùa đầu năm, mùng một hay ngày rằm. Tin vào quyền năng của các thánh thần hay không cũng là sự lựa chọn của mỗi người, nhưng cần tỉnh táo để phân biệt thế nào là tín ngưỡng, thế nào là lợi dụng tín ngưỡng để lan truyền mê tín dị đoan.
 
Ông Phạm Tứ (Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn Văn hóa Tín ngưỡng Việt Nam) cho rằng: “Gần đây Đạo Mẫu hơi bùng phát thì Nhà nước phải quản lý như thế nào, tổ chức thế nào. Chúng tôi không quan niệm tổ chức như Thiên chúa giáo hay Phật giáo nhưng phải có một tổ chức, trong đó có các nhà khoa học, quản lý để định hướng. Chúng tôi rất lo, khi mà được công nhận thì phải làm thế nào để bảo tồn vì thế giới công nhận và họ sẽ luôn luôn kiểm tra xem cái đó còn giữ nguyên hay biến thiên”.
 
Sống trong dòng chảy xã hội, chắc chắn di sản “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ” sẽ có sự biến đổi vì nó phụ thuộc vào chủ thể thực hiện luôn biến đổi, lại gắn với yếu tố sáng tạo văn hóa. Vì thế, định hướng để đạo Mẫu phát triển đúng hướng, không vượt lằn ranh sang mê tín là điều những người một đạo và hành đạo chân chính luôn để tâm.
 
Trong khi thanh đồng Bùi Văn Kiên bày tỏ “mong muốn được quản lý vì sợ bây giờ mở cửa có những người mua bằng, rồi làm bậy, xem bói phán truyền lung tung” thì GS.TS Nguyễn Chí Bền nêu quan điểm những người hành đạo đóng vai trò quyết định trong việc lèo lái, không để đạo biến chất.
 
Giáo sư cho biết: “Hơn ai hết, chính các ông đồng, bà đồng phải là người thảo luận, đánh giá các việc ấy. Nhà báo, quản lý hay nghiên cứu khoa học chỉ là khách thể. Phải để chính chủ thể nhận ra. Quan điểm của tôi là như vậy. Nhà quản lý chỉ vẽ một hành lang để họ đi, còn họ phải nhận ra giá trị ấy, ranh giới ấy. Họ không nhận ra thì chúng ta rất khó quản lý, mà câu chuyện tín ngưỡng luôn luôn là câu chuyện phức tạp. Nên tôi vẫn nhắc lại, quan trọng nhất vẫn là nhận thức của chính những người sáng tạo, sống xung quanh tiếp nhận và thực hiện di sản ấy từ xưa đến nay.
 
Vì họ là những nhân vật sống với niềm tin xúc cảm chứ không phải niềm tin nhận thức. Một số biện pháp quản lý hành chính là cần thiết nhưng nếu chỉ trông chờ vào đó thì không giải quyết được. Giải pháp đầu tiên vẫn là tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông đại chúng, phát tài liệu lưu hành cho các ông đồng, bà đồng, tổ chức những tọa đàm, trao đổi giữa chính những người hành nghề để họ thay đổi”.
 
 

Minh Phương

Từ Khóa :