Hà Nội từng có một lớp người tinh hoa


Hà Nội từng có một lớp người tinh hoa

Minh Minh 17:39 10/10/2017

Đó là nhận định của nhà văn được mệnh danh là “người kể chuyện của Hà Nội” - Nguyễn Việt Hà. Anh cho rằng, ở những thập niên 20 – 30 đã tạo nên một thế hệ người Hà Nội có cá tính và phong khí tinh hoa mà chúng ta đang khát khao. Nhà văn bộc bạch: “Nhưng cùng thời gian, lớp người ấy xơ xác, rụng rời dần chứ không phải người Việt Nam không có những giới tinh hoa”.

Nguyễn Việt Hà là “cha đẻ” của nhiều cuốn tiểu thuyết thu hút được sự quan tâm, bình luận của độc giả như “Cơ hội của Chúa,” “Khải huyền muộn” và “Ba ngôi của người” hay những tạp văn gần đây kể những câu chuyện xoay quanh Hà Nội: “Con giai phố cổ”, “Đàn bà uống rượu”, “Mặt của đàn ông”, “Nhà văn thì chơi với ai”... vừa mang hơi thở của thời đại vừa phảng phất những nét xưa cũ. “Gã trai phố cổ” này đã chọn Hà Nội làm mảng đề tài xuyên suốt trong các sáng tác của mình dù những cái tên anh đặt chẳng gợi một sự liên hệ nào.

Mỗi thành phố đều có một vận mệnh của riêng mình, diễn tiến song hành với sự xoay vần của trời đất. Có đôi khi, Nguyễn Việt Hà mang đến cho độc giả cảm giác anh là một người chép sử của thời đại. Hơn hai mươi năm qua, anh miệt mài “vẽ” nên chân dung thành phố mình đang sống. Bằng ngòi bút sắc sảo, những góc nhìn riêng, cá tính và giọng văn khác biệt, đầy thu hút, anh cố gắng nhận diện ra những “khuôn mặt Hà Nội”, tìm về cốt cách, phong thái người Hà thành và điểm đặc biệt của thành phố Thủ đô.

Đan xen trong các tác phẩm đã ra mắt của anh là những bộn bề cảm xúc trong anh mà độc giả dễ nhận diện. Dù ít đề cập trực tiếp tới cảm giác, hay miêu tả nội tâm, nhưng độc giả sẽ thấy trong những trang viết còn chứa đựng tình yêu, tâm huyết, sự nao nao chua xót của anh khi nghĩ về Hà Nội.

Nhà văn Nguyễn Việt Hà trong buổi giao lưu, chia sẻ về Hà Nội. Ảnh: Hanoia

Trong “Ba ngôi của người”, nhà văn viết: “Hà Nội bây giờ thì buồn quá, nó không quá nghèo nhưng vô đạo và ít học”. Ở tác phẩm này, Hà viết về một Hà Nội xấu xí, nhốn nháo qua hình ảnh những thị dân đương thời đang sống ở mảnh đất được mệnh danh là “nghìn năm văn hiến”. “Thành phố đang loay hoay tha hóa” với “nhà nghỉ nhiều nhan nhản đã làm cho Hà Nội trở nên một con đĩ thập thành”. Người Hà Nội ngày nay là “thế hệ rỗng tuếch vô đạo không lý tưởng, nhỏ dãi nhảy chồm chồm trước tiện nghi vật chất”, còn cả “Bọn tin tin đầu đất nông nổi...”

Hiện thực về một Hà Nội nhộm nhoạm khiến nhà văn đau đáu nghĩ về sự chuyển mình của phố cổ qua các giai đoạn lịch sử và những “chất” riêng mà người Hà thành còn giữ được hay đã làm biến mất.

Gạt qua những vấn đề nội sinh khởi phát từ khi đất nước bước vào con đường hiện đại hóa với đầy rẫy cảnh trái khoáy, Hà Nội vẫn hoặc đã từng đẹp - đẹp từ trong không gian, thời gian đến thú ăn chơi tao nhã, cốt cách con người. Tả về Hà Nội giao mùa trong “Ba ngôi của người”, anh viết: “Hà Nội tàn thu, mưa bụi mịn giăng, phảng phất có gió Đông Bắc rét đầu mùa. Một nghìn năm trước nó đã vậy và một nghìn năm sau cũng sẽ vậy”.

Trong một lần nói về trung thu xưa, nhắc đến Hà Nội, anh ngậm ngùi: “Phố Hà Nội, ngoài chuyện có cảnh sắc thì phải có người, có nhân vật. Địa linh đương nhiên phải có nhân kiệt. Nếu không có gì đáng để nhớ đến thì thành phố này tệ lắm”. Điều làm anh tiếc nuối nhất nhưng giờ không còn nữa là một lớp người tinh hoa mà thành phố từng có được.

Về phố cổ, nhà văn cho rằng Hàng Đào là lõi sâu thẳm của nội đô, và những phố hàng là “đứa con thuần chất” nhất của Hà Nội. Hàng Đào cũng là quê hương của nhiều nhân tài, đấng anh hùng hào kiệt với những nhà thế gia có tiếng như gia đình cụ Hoàng Đạo Thúy, cụ Vũ Ngọc Phan, cụ Lương Văn Can.

Dân Hàng Đào xưa nổi tiếng là những người vừa giàu có, vừa học nhiều hiểu rộng. Nhà văn tâm sự: “Xưa kia Hàng Đào có rất nhiều trí thức. Trong gia đình, ông chồng thường là người tài giỏi, đỗ đạt khoa bảng, bà vợ, cô con gái và con dâu lại đảm đang, tháo vát, khéo léo. Phố Hàng Đào trước đây có những lớp kiểu như thế và còn được coi là phố giàu nhất”.

Ảnh xưa, chụp từ góc phố Hàng Bạc và Hàng Đào. Ngôi nhà ngoài cùng bên phải ảnh là nhà cụ Cử Lương Văn Can (nhà số 4), cách đó 2 nhà, ngôi nhà 2 tầng mầu trắng, có lan can là nhà số 10 nơi mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Ảnh: 36hn.wordpress.com

Con gái phố Hàng Đào xưa cũng rất chảnh. Thời Pháp thuộc, chủ trương kén chồng của những cô gái thanh tân ở phố hàng là “Phi cao đẳng bất thành phu phụ”, có nghĩa không tốt nghiệp cao đẳng thì không lấy làm chồng. “Tôi không cho rằng người Hà Nội cũ có độ khinh bạc, mà là kiêu bạc” – anh nói.

Hàng Đào những năm thập niên 20. Ảnh: Charles Peyrin

Khi Pháp vào, bắt đầu gây ra tao loạn, nhiều người không màng chuyện khoa bảng nhưng vẫn học rất giỏi, nói theo cách của nhà văn là “hay chữ khét tiếng”.

Bây giờ nhiều bậc lão làng hay thở dài là người ngày nay chỉ biết tới buôn bán, hoặc buôn bán cộc lốc. Hà Nội đang giàu lên nhanh chóng về kinh tế, bộ mặt thành phố thay đổi từng ngày. Nhưng cùng đó, lối sống nhỏ nhen, chộp giật, coi trọng đồng tiền đã len lỏi, khiến đời sống tình cảm, tinh thần của con người méo mó, tình nghĩa nhạt phai.

PGS Nguyễn Văn Nhật (nguyên Viện trưởng Viện Sử học) cho rằng, cốt cách thanh lịch của người Hà Nội thể hiện ở trí tuệ - là nét đặc trưng nổi bật của người Hà Nội; sự giàu nghĩa khí, có khí phách và tính kẻ sĩ; chất hào hoa phong nhã, tài tử và sáng tạo; lòng nhân ái; tính chừng mực và kỷ luật, tôn trọng pháp luật.

Nhà nghiên cứu văn hóa Giang Quân với gần 70 năm tìm hiểu về Hà Nội từng nhận định, theo thời gian, những lễ nghi, phong tục, lối sống của người Tràng An đã thay đổi, không ít nét thanh lịch bị phôi pha. Nét thanh lịch xưa của người Hà Nội được thể hiện ở lời ăn tiếng nói (lúc nào cũng nhã nhặn, kín đáo, nhẹ nhàng, không quen thô tục, sỗ sàng), cách đối nhân xử thế, trang phục, nghệ thuật ẩm thực và những thú vui tao nhã.

Người xưa có mắng nhiếc con cái thì cũng chẳng cần cao giọng, to tiếng, cứ nhẹ nhàng dạy bảo, khuyên nhủ nhưng lại sâu cay, thấm lâu. Người Hà Nội cũng biết nhún mình tôn trọng người khác nhưng không vì thế mà mất đi vẻ kiêu hãnh, thanh cao; tài hoa mà không khoe khoang, biết rộng nhưng không làm cao. Họ luôn ăn mặc lịch sự, trang phục gọn gàng, trang nhã, chỉnh tề nhưng cũng đủ tinh tế, lộng lẫy. Họ thích ăn vận đẹp, đổi mốt nhưng không cầu kỳ, khoe của, biết nâng cái đẹp đồng hành với cái nết. Khách đến chơi, người Hà Nội đều lui vào nhà thay đồ tươm tất rồi mới ra tiếp đón, thể hiện sự tôn trọng của mình với khách.

Người Hà Nội xưa rất hiếu học

“Tôi vẫn nhấn mạnh ở những thập niên 20 – 30 đã tạo ra một thế hệ, kể cả những người làm cách mạng, hoặc đi buôn hay hành “nghề” oái ăm như cướp thì đều có cá tính và phong khí tinh hoa. Nhưng cùng thời gian, lớp người ấy đã xơ xác dần chứ không phải người Việt Nam không có những giới tinh hoa. Lúc trước đã manh nha có nhưng đến bây giờ không hiểu sao cứ rụng rời mất. Tôi cũng đến tuổi hoài cổ, biết xót xa. Mọi người hay hỏi tôi Hà Nội hay ở điểm nào, rất nhiều người bảo rằng giờ đến Hà Nội  họ thấy thất vọng, cảm thấy mệt mỏi...” – nhà văn Nguyễn Việt Hà trải lòng.

So với ngày xưa thì người Hà Nội bây giờ còn kém cỏi nhiều lắm. Nhạc sĩ Dương Thụ từng cho rằng Hà Nội ngày nay giàu có, phồn hoa hơn nhưng dân trí thì thấp đi nhiều. “Dân trí Hà Nội bây giờ không cao như người ta tưởng (nhưng có vẻ người Hà-Nội-Khác không nghĩ như thế. Họ tự tin vô cùng, nhất là giới trẻ). Nếu chỉ nhìn những thể hiện bên ngoài thì có vẻ oách lắm” – nhạc sĩ nói.

Nhìn thấu những ảnh hưởng của sự phát triển kinh tế xô bồ đã phá vỡ những phẩm cách của người Hà Nội, Nguyễn Việt Hà khẳng định: “Tôi nghĩ ngoài tài vật rất dễ đếm như sổ đỏ, sổ tiết kiệm thì đánh giá sự giàu có còn phải qua văn hóa thì mới chính xác. Vì bây giờ có rất nhiều trọc phú. Những gia đình ngày xưa có 2 chân kiềng rất vững là tri thức và của cải. Tri thức mà nghèo quá thì cũng không nên, nhưng chỉ giàu suông còn nguy hiểm hơn”.

Xót xa trước những manh nha của một thế hệ người Hà Nội tinh hoa dần lụi tàn, biến mất, nhà văn chỉ thở dài: “Khi nhớ, lẽ thường người ta vẫn nhớ về những gì đẹp đẽ. Để rồi, con người ta đâu dễ tránh khỏi xót xa khi những điều tốt đẹp đó không còn trong hiện tại. Bởi vậy, diễn ngôn của tôi có phần cay đắng, chua ngoa”.


Minh Minh