Glyphosate và ung thư, nghiên cứu gây tranh cãi



Glyphosate và ung thư, nghiên cứu gây tranh cãi

Nguyễn Kim 15:55 4/1/2018

Trong khi mà Liên minh châu Âu phải quyết định số phận của Glyphosate (chất chủ đạo trong thuốc diệt cỏ) thì tạp chí của Viện ung thư quốc gia (JNCI) đã công bố trong số mới nhất những dữ liệu của một nghiên cứu dịch tễ lớn, nhắm đến việc chứng minh những tác động của thuốc trừ sâu lên những người làm nghề nông. Tuy nhiên đã có câu hỏi được đặt ra, liệu nghiên cứu dịch tễ này có thay đổi số liệu?

Trong khi mà Liên minh châu Âu phải quyết định số phận của Glyphosate (chất chủ đạo trong thuốc diệt cỏ) thì tạp chí của Viện ung thư quốc gia (JNCI) đã công bố trong số mới nhất những dữ liệu của một nghiên cứu dịch tễ lớn, nhắm đến việc chứng minh những tác động của thuốc trừ sâu lên những người làm nghề nông. Tuy nhiên đã có câu hỏi được đặt ra, liệu nghiên cứu dịch tễ này có thay đổi số liệu?

Báo cáo có tên là "Nghiên cứu sức khoẻ nông nghiệp" (AHS) cho rằng, các nhà khoa học đã không tìm thấy sự liên đới giữa thuốc diệt cỏ nổi tiếng này và các nguyên nhân cụ thể về bệnh ung thư, đặc biệt là bệnh ung thư máu mà nhiều nghiên cứu trước đó lại chỉ ra sự liên hệ với việc sử dụng chúng.

AHS cho rằng mối liên hệ giữa glyphosate với bệnh bạch cầu cho thấy từ những người tiếp cận gần nhất với chất này, rủi ro bị bệnh lớn hơn gấp đôi so với những người không tiếp cận. Nhưng sự liên đới này, nếu có chỉ đáng chú ý về mặt thống kê với những người sử dụng tiếp cận sản phẩm này ít nhất là 20 năm.

Các nhà nghiên cứu, dẫn đầu bởi Gabriella Andreotti và Laura Beane Freeman (Viện ung thư quốc gia), đã phân tích những số liệu mới nhất từ việc quan sát một nhóm hơn 50.000 nông dân, được lựa chọn từ đầu những năm 1990 ở Iowa và Bắc Caroline. AHS cũng dựa vào một trong những nhóm nông dân làm nông nghiệp liên tục lớn nhất trên thế giới.

Những nghiên cứu đã đặt lại vấn đề về việc định danh glyphosate như là "có khả năng gây ung thư" bởi Trung tâm quốc tế về nghiên cứu ung thư (CIRC), nơi đã thực hiện phân loại vào tháng ba năm 2015 "Sự phân loại với glyphosate vẫn luôn xác đáng”. Trong khi đó những kết quả đầu tiên của AHS về vấn đề này (công bố năm 2005) không chứng minh được mối liên hệ giữa glyphosate và bệnh ung thư máu. Điểm đáng chú ý, AHS không tham chiếu những nghiên cứu dịch tễ khác, được làm trên nhiều nước, chỉ ra mối liên hệ giữa ung thư và chất diệt cỏ.

Ngoài AHS, có một nghiên cứu dịch tễ lớn - North American Pooled Project (NAPP) - đang chuẩn bị kết thúc. Dự án này, một phần được điều hành bởi các nhà khoa học liên quan tới AHS, đã tập hợp với nhau và phân tích tất cả các dữ liệu của các nghiên cứu điều hành bởi North American Pooled về chủ đề này. Dù chưa được công bố nhưng các kết quả của NAPP đã hé lộ trong các hội thảo và ngược lại với AHS : chúng chỉ ra một rủi ro ung thư máu cao gấp đôi với những người tiếp xúc trực tiếp với glyphosate nhiều hơn một năm.

Tại sao kết quả của AHS lại khác với các nghiên cứu dịch tễ khác? AHS sở hữu một phương pháp phát triển (một nhóm được theo dõi trong một khoảng thời gian), nối tiếp và xác đáng hơn những nghiên cứu theo bằng chứng. Nhưng đồng thời nó cũng nghiêng nhiều về khả năng bị sai lệch.

Trong một báo cáo được đưa ra bởi những người thưa kiện của một cuộc vận động tập thể ở Mỹ chống lại Monsanto, Beate Ritz, phó chủ tịch phòng dịch tễ của đại học California ở Los Angeles (UCLA), đã nhấn mạnh "có một sự gia tăng rất lớn của việc sử dụng glyphosate và tiếp xúc với chất này từ giữa những năm 1990". Để dẫn chứng lại, từ năm 1996, nông nghiệp biến đổi gen đã sử dụng glyphosate (được gọi là "Roundup ready") rải xuống đất ở Mỹ đến 5.700 tấn năm 1990, gần 45.000 tấn năm 2000 và hơn 125.000 tấn ngày nay.

Nói cách khác, sự tiêu thụ khổng lồ này, dẫn đến một sự tiếp xúc diện rộng trong dân chúng ở Mỹ. Và hơn hết là trong nhóm các nhà nông được theo dõi. Làm sao mà trong điều kiện này có thể phân biệt một cách chuẩn xác những cá nhân tiếp xúc nhiều nhất và ít nhất? Câu hỏi này được đặt ra vì mật độ tiếp xúc của những người lao động được kiểm tra không dựa trên các đo đạc trực tiếp (trong máu hoặc nước tiểu) trên từng người trong số họ, nó được dự đoán dựa trên một thuật toán. Thuật toán này tính toán một mức tiếp xúc có thể chấp nhận được, nhằm mục đích đưa ra các câu trả lời cho câu hỏi: theo sự thường xuyên và cách tương tác với chất nghiên cứu (sử dụng hay trộn lẫn sản phẩm). Nhưng thuật toán bỏ qua những nguồn khác có thể tiếp cận với sản phẩm.

Một khả năng sai lệch khác : sự tính toán sẽ gộp cả việc mang các thiết bị bảo hộ (găng tay…) và coi như việc này giảm 60% sự tiếp xúc với glyphosate. Theo Alain Garrigou, giáo sư khoa Tổ chức lao động ở đại học Bordeaux và là một trong những chuyên gia hiếm hoi trong lĩnh vực này: "Các thiết bị bảo hộ không hẳn bảo vệ khỏi thuốc trừ sâu, thậm chí trong vài trường hợp còn có tác động ngược, như trong nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra". Xuất bản năm 2011 trong tạp chí Applied Ergonomics, nghiên cứu này chỉ ra rằng mức trung bình tiếp xúc sẽ lớn hơn gấp ba lần đối với những người lao động có đồ bảo hộ, so với những người không có.

"Một vài loại thuốc trừ sâu thấm qua các đồ bảo hộ và được giữ lại trong đó, vì thế làm tăng sự tiếp xúc với da của người lao động, ông Garrigou giải thích. Việc này phụ thuộc vào cả loại vật liệu bảo hộ và thành phần thuốc trừ sâu". Thế là một người lao động mặc bảo hộ được xếp loại như ít tiếp xúc, trên thực tế lại tiếp xúc nhiều hơn với sản phẩm so với một người không mặc bảo hộ, thậm chí, được coi là có độ tiếp xúc cao.


Nguyễn Kim