Giáo dục Việt Nam “loay hoay” trong các hệ giá trị



Giáo dục Việt Nam “loay hoay” trong các hệ giá trị

Phạm Bích San 18:52 2/9/2012

Cuộc khủng hoảng giáo dục Việt Nam đang ngày càng trầm trọng và những giải pháp đưa ra ngày càng nhiều sự không hợp lý. Đã đến lúc tư duy lại hệ thống giáo dục của chúng ta để thấy rằng sự cải cách giáo dục Việt Nam, suy cho cùng, phải bắt đầu ở chỗ tạo ra một sự đồng thuận chung của xã hội về những giá trị nào mà giáo dục chúng ta cần theo đuổi.

Quả thật, sự lựa chọn càng lúc càng khó khăn hơn khi mà có những mô hình nổi trội mới xuất hiện ở phương Đông như mô hình Đông Á và mô hình Trung Quốc, trong khi các mô hình phương Tây, kể cả mô hình đầy sức sống và sức cạnh tranh là nước Mỹ, đang lúc có nhiều khủng hoảng. Các mô hình Đông Á đối với Việt Nam còn chút lợn cợn, còn hệ giá trị phương Tây thì rất xuyên suốt. Trong lúc giao thời, hệ giá trị được định danh là CNXH đã từng chi phối nền giáo dục Việt, dù rằng mô hình khởi thuỷ của nó là Liên Xô đã sụp đổ, vẫn còn tiếp tục áp dụng tại Việt Nam. Và sự tiếp sức của mô hình XHCN, thực dụng theo kiểu mèo trắng mèo đen miễn là bắt được chuột và siêu hình theo kiểu Trung Hoa là trên hết, đang làm băn khoăn nhiều bậc trí giả. Đã có hẳn một trào lưu quay về với nhiều giá trị cũ mà khẩu hiệu ‘’Tiên học lễ, hậu học văn’’ treo lù lù ở mỗi cổng trường là một điều nhắc nhở. Còn điều khó thấy hơn, là sự bóp bẹp sức sáng tạo cá nhân cũng như loại bỏ sự khẳng định nhân cách mỗi công dân tương lai ở mỗi giờ học trong nhà trường, có thể thấy rõ qua nạn làm theo bài mẫu đang hoành hoành ở khắp mọi nơi.
 
Với những chao đảo như thế trong hệ giá trị, nên việc vạch ra các mục tiêu, cả dài hạn lẫn ngắn hạn, trở nên bất khả thi. Có ít nhất ba mục tiêu mà nền giáo dục nào cũng theo đuổi:
 
 1. Xã hội hoá để các em hội nhập trở thành thành viên đầy đủ của xã hội
 2. Hình thành năng lực tư duy logic và sáng tạo cho các thành viên
 3. Tạo dựng các kỹ năng cần thiết để kiếm sống.
 
Ở mục tiêu thứ nhất, quả là khó để xác lập các đặc tính cơ bản của xã hội mà chúng ta đang muốn làm thế nào đó để các em có thể trở thành thành viên đầy đủ của nó. Cái được nhắc tới luôn luôn trong các chính sách thường là một cái gì đó tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc. Nhưng thế nào là tiên tiến, thế nào là bản sắc dân tộc và thế nào là đậm đà thì không xác định được. Sự vắng bóng các triết gia trong lịch sử phát triển văn hoá dân tộc đã bộc lộ chỗ yếu chí mạng của văn hoá Việt, vì chỉ có thể xác định được ba cái trên dựa trên nền tảng triết lý dân tộc. Lấp vào chỗ trống đó là một sự chấp nhận rất hời hợt: ở đây cứ khoa học công nghệ nhiều và cao được coi là tiên tiến. Và cũng vậy, nhiều lý luận macxit lêninnit và phê phán các giá trị cha ông một thời cũng được coi là tiên tiến. Còn bản sắc dân tộc thì được quy đổi là truyền thống yêu nước và độc lập của người Việt, điều rất đúng nhưng có lẽ hoàn toàn không đủ. Và đậm đà ở đây đã được đơn giản hoá bằng cách nhắc đến thật nhiều.
 
Ở mục tiêu thứ hai, năng lực tư duy logic đã không được các nhà lập chính sách giáo dục coi trọng đầy đủ. Sự tạo lập nên một khuôn mẫu tổng quát cái gì là đúng và cái gì là sai và định đề cho trước, như phát biểu của ông Phạm Văn Đồng, nguyên Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, tại Trường kiểm sát năm 1976 là chúng ta có quyền tự do suy nghĩ nhưng không cho phép tự do tư tưởng, đã làm cho năng lực tư duy logic trở thành một cái gì đó là thừa. Nhất là trên nền tư duy logic đó lại có các kết luận độc lập có thể  khác với nhận định cho trước của một số nhà lãnh đạo nào đó vào một lúc nào đó.
 
Ở mục tiêu cuối cùng, kỹ năng để kiếm sống, cũng đã không được nền giáo dục chúng ta nhận thức đầy đủ. Mục tiêu lớn nhất của một công dân trong xã hội là phải kiếm sống được cho mình, lo được cho cuộc đời của mình đã được chuyển đổi thành đóng góp cho xã hội càng nhiều càng tốt. Sự định vị từ đảm bảo được lợi ích cá nhân tiến tới đóng góp lợi ích xã hội đã chuyển thành định vị đóng góp tất cả cho lợi ích xã hội để rồi sau đó xã hội phân phát lại cho cá nhân. Sự đào tạo ra các công dân có thể kiếm sống một cách độc lập được triển khai ở mức rất không đầy đủ. Điều này khiến cho cá nhân thiếu đi sự tự tin và tự lực vào năng lực cá nhân và gia tăng sự lệ thuộc của các cá nhân nhiều hơn vào các thiết chế xã hội rộng lớn.
 
Vậy là chúng ta thấy các mục tiêu cơ bản của bất kỳ nền giáo dục trưởng thành nào đã không được nền giáo dục Việt Nam ý thức một cách đầy đủ và triển khai một cách nhất quán. Điều dễ hiểu là nền giáo dục đó khi triển khai thực hiện đã đưa đến những định hướng tai hại trong việc xác lập các chỉ báo và thang đo đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu.
 
Để đánh giá mục tiêu thứ nhất, sau khi đã được đơn giản hoá, là những cố gắng lớn lao để nhồi nhét các kiến thức mới và cao hơn cho học sinh, bất kể sự hình thành nhận thức và xã hội hoá trẻ em phải là một quá trình lâu dài. Kết quả là nhà trường không làm sao cung cấp đủ kiến thức cho trẻ em và các em đã phải đi học thêm từ lúc còn mẫu giáo để có thể thi được vào những trường tốt, lớp chọn. Và các cặp học sinh cứ nặng thêm một cách vô vọng. Thời gian cho trẻ em chơi, để hình thành các quan hệ xã hội cơ bản, càng thu hẹp lại một cách tuyệt vọng. Và sự nhồi nhét các kiến thức lịch sử đơn điệu, lặp lại và vô nhân xưng đã làm cho các kết quả thi sử nói riêng và sự ham mê khoa học xã hội nói chung đã trở thành một thảm hoạ.
 
Còn mục tiêu thứ hai thì đơn giản là đã không được đề cập đến trong nhận thức của nền giáo dục chúng ta. Các khuôn mẫu tư duy đã được trình ra và học sinh được luyện cách suy nghĩ theo những khuôn mẫu đó. Triết học thực sự, không phải là triết học Mác Lênin, vắng mặt trong các cấp học cao ở nhà trường phổ thông và đại học trong khi ở tiểu học các kỹ năng trình bày ý kiến của mình, lắng nghe ý kiến bạn khác, bảo vệ ý kiến của mình, phê bình ý kiến bạn khác là điều không thể tưởng tượng nổi. Học sinh Việt Nam rất ít khi nói lên ý kiến của riêng mình mà luôn luôn trông chờ vào ý kiến của ai đó hoặc của tập thể. Không thể có khoa học và công nghệ tiên tiến với cách tư duy kiểu như thế.
 
Để rồi các kỹ năng kiếm sống của con em chúng ta thật là tai hại. Các em đi học và cứ như là đi học cho một ai đó chứ không phải đi học cho mình. Những gia đình không có điều kiện các em phải thôi học sớm và được ném vào đời với một sự chuẩn bị không đầy đủ. Đơn giản là nền giáo dục mở ra rất nhiều trường đại học và rất ít trường dạy nghề. Và tư nhân rất ít cơ hội để được tham gia vào lĩnh vưc này, vì xin giấy phép thành lập trường đã khó khăn mà kiếm được đất để mở trường đơn giản là việc không tưởng nếu không có những quan hệ xin cho phức tạp và tốn kém. Còn những gia đình khá giả thì các em học đại học, học cao học và cứ thế học tiếp chừng nào gia đình còn có thể. Nên có quá nhiều bằng cấp nhưng có quá ít kỹ năng ở đây.
 
Trên căn bản hệ giá trị mà chúng ta theo đuổi với luật lệ, chuẩn mực và cơ chế quản lý mới, phải được triển khai đồng bộ để rồi cuối cùng hành vi con người mới hình thành được.
 
Nếu không, quá trình thị trường hóa giáo dục đang diễn ra một cách dung tục sẽ xoá bỏ một cách không thương tiếc những thành tựu tốt của một nền giáo dục theo chuẩn phương Tây đã từng có ở Việt Nam, đang xoá bỏ những thành tựu tốt của nền giáo dục XHCN một thời để trình ra một nền giáo dục trần trụi nhiều kiến thức, ít tư duy và còn ít hơn những quan hệ nhân bản giữa con người, nền tảng của một xã hội hiện đại.
 
Và kết quả là chúng ta có một nền giáo dục nhôm nhoam trong mọi thứ. Như nền giáo dục hiện nay: tốn kém, ít giá trị, và rất không được những người đi học tôn trọng.
 
Nhưng xem ra lúc này người Việt vẫn đang trong cơn say tranh luận: trên bình diện ngữ nghĩa không rõ ràng, trên bình diện kiến thức không đầy đủ và trên nhưng kinh nghiệm chắp vá từ các nền giáo dục khác nhau trên thế giới. Giáo dục nước nhà chắc là phải chờ khi các nhà tranh luận xuông đi hết đã.
 

Phạm Bích San

Từ Khóa :