Ghost in the Shell: Sự vong ngã của con người trong kỷ nguyên tập đoàn


Ghost in the Shell: Sự vong ngã của con người trong kỷ nguyên tập đoàn

Quốc Đạt 5:0 6/4/2017

“Ghost in the Shell” (Vỏ bọc ma) là bộ phim thường được nhắc đến trong các tiểu luận nghiên cứu triết học điện ảnh và cũng là sản phẩm độc đáo của triết học hoạt hình Nhật Bản. Hay nói một cách khác, đó là cách người Nhật từ tích lũy và trừu xuất ra sản phẩm trí tuệ của mình. Giống như cách họ đã từng hấp thụ Khổng giáo, thì nay, cũng là cách họ hấp thụ triết học phương Tây và trả lại vào kho tàng trí tuệ nhân loại thông qua văn bản. Ở đây là văn bản dưới dạng hoạt hình.

Bóng ma trong cỗ máy là một ví dụ thường được nhắc đến trong các tiết học về nhị nguyên - một mã số 0-1 lập trình nên nền tảng triết học và khoa học phương Tây thống trị đến tận ngày nay. Từng lớp, từng lớp các thế hệ triết gia đều đặt câu hỏi ngắn gọn “ta/tôi là ai” và đưa ra các câu hỏi cho riêng mình. Qua mỗi thời kỳ, cùng sự phát triển của khoa học, với các chứng cứ cụ thể, lời giải cũng có nội dung khác. Có thể sáng tỏ ở mặt này, nhưng vẫn tối đen ở mặt kia. Câu hỏi này, ở đầu thế kỷ 20 còn tối quan trọng đối ngành vũ trụ và vật lý lượng tử khi vị trí của người quan sát/chủ thể/tôi-ta/anh chị ấy đều có thể mang đến những kết quả bất định.

Vào thế kỷ 16, cùng với các thành tựu khoa học thời của Descartes, vũ trụ và cơ thể con người giống như một cỗ máy, tâm trí là ông chủ và nó là nhân tố quyết định sự tồn tại vật chất của chúng ta. Chừng nào, con người còn hoài nghi/tư biện về chính mình, thì lúc đó họ còn tồn tại.

Chính con người suy niệm đầy tò mò hoài nghi của Descartes đã góp phần tạo nên thế giới khoa học thực chứng quan tâm đến các bằng cớ vô cùng phong phú của phương Tây.

Tuy nhiên, phương pháp suy niệm của Descartes không phải là duy nhất. Qua mỗi thời kỳ sau đó Hume, Kant, Heidegger đều bổ sung, phê phán và tiếp tục khai triển để hòng giải đáp tất cả các nền tảng, lộ trình của một bộ não đang tự đánh giá những khái niệm/thực chứng mà chính nó chưa bao giờ trải qua.

Một trong những trải nghiệm mà bộ não chúng ta băn khoăn nhất đó là: sự tồn tại của chính nó như thế nào?

Nếu một bộ não được đặt trong cỗ máy, không có tay chân, liệu nó có tự tạo ra các trải nghiệm của một cơ thể hoàn chỉnh không? Từ câu hỏi này, từ góc nhìn của “Matrix”, câu trả lời là có! Ngay cả khi đang ngủ trong cái kén, với sự trợ giúp của công nghệ, bộ não có thể tạo ra các thực tại ảo khiến cho các thân xác bất động kia hoàn toàn tin rằng mình đang di chuyển, ăn uống, làm tình như thật.

Tuy nhiên, giả định này chỉ có thể đúng khi bộ não phải có kinh nghiệm thật thì mới có thể tạo ra một sự tồn tại ảo. Ví dụ như, một đứa trẻ sinh ra bẩm sinh đã bị điếc/mù, chúng sẽ không thể biết được âm thanh/màu sắc là gì.

Và để có kinh nghiệm này, trí não cần có thân thể với đầy đủ tứ chi cùng hệ thần kinh cùng các cơ chế sinh hoá để mang đến các kinh nghiệm mà nó sẽ không bao giờ có nếu chỉ được đặt trong một ống nghiệm.

Có lẽ đây chính là lập luận chính của Gilbert Ryle và sau đó là Arthur Koestler cũng như nghệ sĩ manga Masamune Shirow khải triển luận điểm phê phán phương pháp mô tả cấu trúc phân tách tâm trí và cơ thể. Không chỉ vậy, đứng từ quan điểm của một người Nhật, quốc gia có nền tảng Thiền tông thì sự hiện diện nhất nguyên - không thể phân tách giữa tâm và vật - lại là điều rất bình thường.

Ở khía cạnh này, sự hiện diện và cách đại tá Kusanagi trong phân cảnh lặn sâu dưới đáy biển sau đó nói chuyện với Batou rất gần gũi với quan điểm của Heidegger về vai trò quan trọng của cái chết. Đoạn hội thoại này, bộ phim điện ảnh đã bỏ qua. Rất đáng tiếc.

Đối với Kusanagi, bộ não đã mất ký ức/kinh nghiệm thực tiễn của tri giác, cô ta không thể nhớ sự đụng chạm với vật chất khách quan ra sao, từ đó cũng mất đi nhận thức cái chủ quan/bản ngã/căn tính của mình. Khi không còn kinh nghiệm, mệnh đề “tôi suy nghiệm, tôi còn tồn tại” của Descartes trở nên lung lay.

Tuy nhiên, khi lặn xuống biển, sự cô độc và nguy cơ não bị thiếu oxi, cái chết trở thành trải nghiệm duy nhất của sự tồn tại.

Theo Heidegger, chính cái chết mới cho phép con người ban ý nghĩa cho sự hiện hữu của mình và cho thế giới mình sống. Sự hiện hữu của con người không phải là cứ sở (grund) của Tồn tại, mà là vực thẳm (abgrund), vốn là cái tạo ra ý nghĩa, cáí cho phép ý nghĩa nảy sinh thông qua sự hiện hữu của con người. Chính vì thế, sự hiện hữu của con người không phải là cứ sở của chính nó.

Ở thời điểm năm 1995, bộ phim hoạt hình này của người Nhật rõ ràng là bản sắc trong cách truyền tải câu hỏi triết học “tôi là ai” đến mọi người (cho dù vào năm 1982, bộ phim “Blade Runner” cũng là một dấu ấn quan trọng của triết học phương Tây trong điện ảnh). Sau đó nó tạo ra cảm hứng dài kỳ cho điện ảnh Mỹ. Hay nói một cách khác, văn hoá và triết học hiện sinh của người Nhật luôn là nguồn cảm hứng lâu dài của Hollywood khai thác đề tài: con người - robot - căn tính.

Còn đối với bộ phim 2017, Hollywood chỉ dừng lại phê phán sự vong ngã của con người trong kỷ nguyên tập đoàn. Descartes không còn là đối tượng họ quan tâm nữa. Cách một tập đoàn đối xử với sự hiện diện của mỗi công dân như một công cụ/sản phẩm/vũ khí mới là niềm cảm hứng chống tư bản tiêu dùng của người Mỹ. Xét cho cùng, đó đúng là vấn đề của họ.

Xem thêm:

The Big Short: Cười ra nước mắt

The Wolf of Wall Street: Từ “sói” đến… “sói” hơn

“xXx: Phản đòn” - khi cơ bắp Mỹ gặp Nhân dân tệ

Life – Mầm sống trong vũ trụ luôn ẩn chứa cả hiểm họa

Khi con người được định giá bằng trang phụ


Quốc Đạt

Từ Khóa :