Gạo Việt ‘bạc lưng’: Trung Quốc ‘ăn đủ’, Nhật Bản ‘chê bai’



Gạo Việt ‘bạc lưng’: Trung Quốc ‘ăn đủ’, Nhật Bản ‘chê bai’

Lục Dương 18:21 9/7/2013

Trong 6 tháng đầu năm 2013, hầu như không một hạt gạo Việt Nam nào chính thức cập được cảng Nhật Bản thì Trung Quốc vẫn duy trì được vai trò quốc gia nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam.

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), tính đến hết tháng 6, xuất khẩu gạo Việt Nam đạt 3,485 triệu tấn, trị giá 1,575 tỷ USD. Vậy mà khối lượng gạo xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc trong 5 tháng đầu năm đã đạt đến 1,135 triệu tấn với trị giá xấp xỉ 472,4 triệu USD, tăng 27,8% về khối lượng và tăng 24,1% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm 36,4% tổng trị giá xuất khẩu gạo. Tuy nhiên, VFA cũng phải thừa nhận có hiện tượng nhiều nước tiêu thụ cố tình dây dưa chờ giá xuống mới chịu nhập. Ngay cả thị trường Trung Quốc, vốn được cho là luôn trong tình trạng “đói gạo” và người dân đang hết sức lo ngại gạo nhiễm cadmium, cũng nằm trong đội ngũ này.
 
Trong khi đó, ông Nguyễn Văn Tiến - Tổng giám đốc Công ty cổ phần xuất nhập khẩu An Giang (ANGIMEX), đơn vị dẫn đầu xuất khẩu gạo sang Nhật trong năm 2012 của Việt Nam - cho biết năm 2012, ANGIMEX xuất sang Nhật được khoảng 30.000 tấn gạo thì trong 6 tháng đầu năm 2013 hầu như không xuất được, dù nước này đã nhập khoảng 350.000 tấn. Theo ông Tiến, Bộ Nông nghiệp Nhật muốn tăng lượng gạo nhập khẩu từ VN nhưng vấn đề an toàn đã khiến họ chùn bước, nên từ đầu năm đến nay Thái Lan, Mỹ trở thành thị trường được hưởng lợi.
 
Theo Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA), cả năm 2012 Nhật Bản nhập khẩu khoảng 700.000 tấn gạo phục vụ cho tiêu dùng nội địa và nhu cầu này ở năm 2013 được dự báo cũng tương đương.
 
Theo Oryza - trang tin giá gạo toàn cầu, giá gạo Việt Nam đã giảm khoảng 1-4% trong tháng 6. Giá gạo Việt 5% tấm cuối tháng 6 khoảng 370 USD/tấn. Giá gạo xuất khẩu trung bình trong 6 tháng đầu năm khoảng 433 USD/tấn, giảm 9% so với 474 USD/tấn cùng kỳ năm ngoái. Giá gạo Việt Nam được đánh giá là tách khỏi mặt bằng giá gạo thế giới, trờ thành quốc gia có giá gạo thuộc hàng rẻ nhất. Không phải nhờ công nghệ kỹ thuật sản xuất hiện đại hay chiến lược kinh doanh, quản lý tài tình mà lại bởi hạt gạo Việt Nam quá “mong manh dễ vỡ” khi phải phải oằn lưng gánh hàng trăm thứ chi phí: giống má, phân bón, thuốc trừ sâu, trừ rầy, vốn vay ngân hàng, mồ hôi người nông dân “năm nắng mười sương”, sự bủa vây của thương lái “lạ”, phí ăn chia giữa các nhà xuất khẩu… Chỉ cần một sức ép, chẳng hạn lãi suất, chính sách thay đổi, thiên tai, biến động thị trường, là có thể dễ dàng buộc doanh nghiệp quýnh quáng “ép” giá xuống, còn người nông dân chỉ có thể than thở và cắn răng chịu đựng. Một doanh nghiệp xuất khẩu gạo ở Cần Thơ từng thừa nhận trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn: áp lực đáo nợ ngân hàng của khoản vay mua tạm trữ buộc họ phải hạ giá bán gạo để có tiền trả ngân hàng. Tình cảnh “quân ta đá quân mình”, cũng tương tự như cá tra và basa, cứ tiếp diễn đều đặn, tạo nên một hệ thống rời rạc tưởng như một làn gió nhẹ cũng dử sức bẻ gãy. Trách sao được gạo Việt Nam hay bị chê bạc lưng!
 
 
 
Không những vậy, trong khi các nước xuất khẩu mạnh đồng thời cũng là những quốc gia có đội tàu khá vững vàng thì ở Việt Nam phần lớn vẫn do đội tàu nước ngoài thực hiện. Trong khi đó, nổi tiếng là một quốc gia có đường bờ biển dài với nhiều cảng biển, đáng ra đã phải có đội tàu vận tải nhiều kinh nghiệm trong vận tải quốc tế, làm giảm cước phí vận chuyển cũng như các chi phí phát sinh tại cảng như chi phí lưu kho, chi phí bốc dỡ hàng… Hầu hết ở Việt Nam thường chọn lối phương án nhập CIF (giao tại kho) xuất FOB (giao tại cảng), tức là nhập hàng đã bao gồm giá sản phẩm, cước phí vận chuyển và phí bảo hiểm trong khi xuất FOB thì chỉ cần giao hàng lên tàu là hết trách nhiệm. Bằng lòng với lợi ích trước mắt, nghịch lý nhập cao xuất thấp đã trở thành câu chuyện hết sức bình thường ở Việt Nam.
 
Việc Nhật Bản thà chọn gạo Thái Lan có giá cao hơn Việt Nam cho thấy hiện nay, giá cả không hoàn toàn là yếu tố quyết định đến mức tiêu thụ một sản phẩm. Điều này càng nổi rõ ở các thị trường phát triển và khó tính như Nhật Bản hay Mỹ - nơi mức thu nhập người dân cao gấp hàng chục lần Việt Nam - đã chóng qua cái thời “ăn no mặc đủ” mà giờ là “ăn ngon mặc đẹp” và an toàn là trên hết. Trong cái thời mà nhu cầu lương thực vẫn còn đang cao mà Việt Nam vẫn còn kiếm chưa ra chỗ đứng thì đến tận bao giờ gạo Việt mới có thương hiệu đủ tầm để ngồi chiếu trên!?
 

Lục Dương

Từ Khóa :