Skip to main content

Tanh bành náo nức hội cướp phết Hiền Quan

Tanh bành náo nức hội cướp phết Hiền Quan

Ra Tết đến 12-13 Giêng ai đi lên mạn cầu Trung Hà, gần tới Tam Nông Phú Thọ thấy ngay cái không khí cứ hừng hực ngược xuôi ven đường. Chính là 2 ngày cả vạn dân kéo đi “Phết Hiền”, cách gọi nôm của lễ hội cướp Phết Hiền Quan. Phải chen vào và để cho cuốn đi theo dòng thác người trong hội Phết, bạn mới hiểu được sức cuốn hút kì lạ của của văn hóa dân gian và sự khủng khiếp đến mức nào của câu nói “sức dân như nước vỡ bờ”.

Đất Việt ta vốn lễ hội cứ là quanh năm, nhiều nhớ không xuể. Nhưng có những hội dân gian không thể không biết tới, đó đa phần đều là các các lễ hội trong nhóm hát, rước và tích trò. Bởi những lễ hội như vậy thường phản ánh chân thực và hồn nhiên nhất đời sống dân gian của người Việt cổ. Quan trọng hơn, nó khẳng định và lưu truyền mãnh liệt tinh thần văn hóa và tính hùng tráng độc đáo của dân tộc Việt.
 
 
 
 
Hội Phết Hiền Quan (xã Hiền Quan, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ) là lễ hội dân gian độc đáo, mở tế, diễn trò vui xuân đánh phết độc đáo bậc nhất ở vùng trung du Bắc Bộ. Lễ hội được tổ chức vào ngày 12 - 13 tháng Giêng Âm lịch hàng năm. Gốc tích hội là nhằm tưởng nhớ công lao của nữ tướng Thiều Hoa đã từng luyện quân giúp Hai Bà Trưng đánh giặc giữ nước. Nay thành buổi hội cho cả vạn trai tráng khắp vùng Thanh Sơn, Cổ tiết, Tam Nông và cư dân hai bờ sông Hồng nơi bến cầu Ngọc Tháp có buổi chơi xuân tưng bừng náo nức.
 
 
 
 
 
Hội Phết được tổ chức trên phần ruộng hay bãi sông của xã Hiền Quan, tùy theo thực địa các cụ ngoài đình sẽ quyết định đặt bãi cướp phết về cánh đồng trong đê, trên những thửa ruộng mới cày hay ra bãi sông. Đó sẽ là bãi cướp Phết “cuồng nộ” cho đám trai làng hừng hực khí thế thi tài.
 
 
 
 
 
Tết năm ngoái mưa nhiều, bãi sông bị ngập lủm, còn những thửa ruộng mới cày ngậm nước trở thành một bãi bùn, lầy lội, nhão nhoẹt. Các trai đinh cướp Phết đều thành ra những con “ma bùn”. Năm nay mưa nước ít, nên bãi Phết lại được đưa ra vỉa bồi ngoài sông.
 
 
 
 
 
Quả phết được làm bằng gỗ và sơn đỏ, to bằng quả cam, vừa tay cầm. Tương truyền trong lễ đánh phết, ai chạm được vào quả phết hay cướp được quả phết sẽ được may mắn cả năm. Vì thế mà hội cướp phết luôn diễn ra sôi động và quyết liệt. Hàng ngàn trai tráng tham gia đánh phết và tranh giành theo từng đội, có chiến thuật vây cứu chạy rất bài bản để mong mang may mắn về cho làng.
 
 
 
 
 
Hội Phết Hiền bao giờ cũng phải qua 4 bước: Rước kiệu, Tế lễ, Kéo quân và cuối cùng là Thả Phết-Đánh Phết. Lễ rước kiệu được tiến hành từ chiều ngày 12 Giêng. Trên kiệu là các sắc phong, bài vị, quả Phết, quả Dúi được cất giữ trong cung cấm của đình làng. Kiệu được khiêng từ đình ra đền, do các binh sĩ mình mặc áo giáp cờ quạt chiêng trống hộ tống.
Lễ hội Cướp Phết đã có lịch sử ngàn năm, mang đậm bản sắc dân tộc, vô cùng giầu sức sống. Chỉ trong 2 ngày hội mà tái hiện mãnh liệt khát vọng sống, tinh thần quật cường, sức mạnh ganh đua, đoàn kết trong cơn biến loạn, nhưng cũng rất dân dã với tính ưa lộc thích nhàn và ham vui. Cả cái sự huyền bí ảo diệu của sức mạnh tâm linh, tinh thần khiến con người ta có thể nháy mắt biến cả trăm như một, thành một “cơn sóng” khủng khiếp quét phăng mọi vật cản. Bởi thế mà lễ hội Phết Hiền Quan hàng năm vẫn cứ thu hút được đông khách chơi hội, dù năm nào cũng lanh tanh bành nhưng hội vẫn cứ vui, mà ít điều tiếng.
 
 
 

Sau là Tế lễ với các cụ cao niên ông tiên chỉ và các bậc trưởng lão trong làng. Người đọc văn tế là ông bàn thượng, các bản văn tế được viết trong các sắc phong. Lễ “Khẩn tấu” do ông tiên chỉ đọc, mong cuộc sống an bình cho mọi người, sau đó là lễ dâng hương nến, xôi gà, bánh chưng, bánh dày, rót rượu cúng lên các bậc Thánh hiền. Mỗi lần dâng là một lần tế và các cụ lại xắp hàng dâng lễ vào cung.

 
 
 
 

Sau ba tuần rượu tế là đến lễ kéo quân, đoàn binh sĩ là các cháu thiếu niên tay cầm cờ nheo, trai đinh gánh trống, trưởng lão mang giáp cầm cờ giáo mác chầu trước cửa đền để nghe chỉ dụ, sau đó chia 2 ngả, miệng hô vang một bến sông, biểu thị sự oai phong của đoàn quân.

 
 
 
 
Trong tiếng trống cái, trống con gõ rộn, tiếng hò reo của quân tướng, của người xem hội rộn cả triền đê. Hai đoàn quân mình mặc áo giáp vàng, vấn khăn, chân quấn xà cạp đeo dày mũi hài, tay cầm long đao, cờ xuý lao vào nhau. Binh sĩ tha hồ tranh cướp cờ, đao mác… Bên nào cướp được nhiều coi như thắng.
 
 
Lễ kéo quân kết thúc cũng là lúc bắt đầu đến phần hội “say” nhất khi cả rừng người trai tráng gào thét bảo vệ lẫn lăn xả vào ông Tiên Chỉ mặc áo lễ đỏ tay ôm quả Phết mang ra khỏi đình, lễ cướp Phết bắt đầu.

Lúc này không gian lễ hội huyên náo và sôi động hẳn lên. Ông Tiên Chỉ tục truyền được coi là “con vua” đọc bài hò Phết, sau đó được quân bảo vệ che lọng vàng đem Phết ra bãi ném cho muôn dân tranh cướp. Mỗi Hội Phết chỉ ném 3 quả Dúi, 6 quả Phết.

 
Khi Phết được tung ra, đám quân hầu dù đã gồng mình khóa tay vây quanh ông Tiên Chỉ để bảo vệ ông khỏi bị đám đông lao vào cướp Phết dẫm “bẹp”!
 
Nhưng cơn lũ người đang như say như lên đồng kia cứ gào thét tràn tới, người ta phải dùng cả gậy nèo phang vụt tới tấp mà cũng phải mất lúc lâu, mới mang được ông Tiên Chỉ thoát ra về đình.
 
Còn lại trên bãi Phết, thôi thì cứ gọi là cơn thác lũ những người là người tràn qua tràn lại, đè lên nhau, chui trèo lộn nhủi, đấm đá giằng co… mặt mũi nộ khí tưởng rạch trời. Cốt chỉ để ôm được quả Phết đo đỏ với lòng mong hưởng may được phúc lộc.
 
Cơn cuồng nộ cướp Phết nhiều khi vô tình ném phải bãi chợ thì thôi khỏi phải nói, hàng quán xe cộ, người ngượm già trẻ trai gái, rau dưa bánh kẹo tan nát bằng hết. Nhưng mà lạ là ai ai cũng cười hớn hở, thiệt hại có tiếc nhưng coi như có may!
 
Theo tục truyền, nếu ai bị quả Phết, quả Dúi rơi vào hay chạm tới đã là may mắn. Còn nếu cướp được quả Phết, quả Dúi thì họ và gia đình cùng thôn xóm được sự may mắn quanh năm. Chính bởi điều thần bí này mà mỗi khi ông tiên chỉ mang quả Phết, quả Dúi ra là có hàng trăm, hàng ngàn người xô vào tranh cướp, đến lúc quả phết được ai đó cướp được chạy ra khỏi bãi ném Phết mà không có ai đuổi theo thì quả Phết tiếp theo lại được ném ra cứ thế hết hai ngày hội mới xong.
 
Trong một trận đánh Phết, cái hay mà du khách đi xem là được thấy hầu như tất cả mọi đặc tính cả tốt lẫn xấu của người nông dân Việt Nam, được thể hiện sống động, lành mạnh khiến người xem hội có đủ cung bậc cảm xúc, từ vui hỉ hả đến kinh sợ thót tim, cả thán phục lẫn nhẹ nhõm lòng tin. Nếu mà cứ sống tốt, sống đúng cả một năm mà không có một cái hội cho người ta được thỏa sức tranh giành, so cựa thì hẳn cuộc đời lại trở nên bất bình thường. Trong lễ lạt lại có hội hè, giữa cái nghiêm cẩn lại cần những phút giây sảng khoái, đó là nét đẹp của văn hóa dân gian khi biến ngẫu những sự bất bình thường đầy rẫy trong xã hội vào một ngày để thỏa thê dày vò, ngấu nghiến. Để khi quay lại cuộc sống thường nhật mới thấy rõ hơn các thói hư tất xấu của mình mới đáng cười làm sao.