Skip to main content

Cứ thấy bánh cộ là Tết về

Cứ thấy bánh cộ là Tết về

Với vùng đất tâm linh và ẩm thực như Huế, cứ mỗi độ tết về cũng là khi các bà, các mệ nội trợ lại thi nhau trổ tài nhiều loại mứt bánh ngon, trước là để cúng ông bà, sau là dùng để đãi khách. Một trong thứ quà bánh cổ truyền đó chính là bánh in hay còn gọi là bánh cộ. Cứ ngỡ rằng, trước nhịp đời hối hả với những hộp bánh sang trọng người ta sẽ quên mất loại bánh cổ truyền này, thế như, bằng những nét riêng có, bánh cộ vẫn tồn tại, song hành với thời gian mỗi dịp Tết đến xuân về.

Tương truyền rằng, bánh cộ có nguồn gốc từ làng Kim Long, một thời dùng để tiến Vua uống trà. Bánh cộ là một loại bánh được làm từ các loại bột ngũ cốc như bánh bột nếp, bột huỳnh tinh, bột đậu xanh, bột đậu quyên, bột đậu ván, bánh hạt sen trần...
 
 
Bột nếp sau khi xay mịn, người làm tiếp tục pha bột nếp với bột đậu xanh bóc vỏ theo tỉ lệ đường bột cân đối, sao cho bánh không quá ngọt gắt nhưng vẫn giữ được vị thơm của các loại nguyên liệu, vị ngọt nhẹ. Về công thức làm bánh, mỗi người, mỗi nhà đều cất giữ cho mình những bí quyết khá riêng, khuôn đúc riêng tạo nên những mẻ bánh có vị cũng khác nhau. Có nhà làm chiếc bánh có hình chữ nhật (2x3), có nhà tạo hình tròn kiểu hoa sen, trái đào tiên…
 
 
Thế nhưng quy trình chung để làm ra một chiếc bánh đều phải trải qua các bước như đãi đậu - nấu đậu - đánh đậu - giã đậu - in bánh - sấy bánh - gói bánh bằng giấy bóng ngũ sắc. Trong quá trình làm, bánh đậu xanh cần phải sấy khô khoảng 12 tiếng bằng than củi, khi cắn một miếng bánh vừa có độ giòn, vừa tan ngay trong miệng nhưng lại không quá cứng, để lâu không mốc. Khi in bánh phải thật nhẹ nhàng nếu không bánh sẽ cứng như đá.
 
 
Trong đời sống tâm linh, nhiều người dân xứ Huế thường sử dụng bánh cộ để dâng lên cúng Phật trên ban Tam Bảo, cúng tổ tiên, ông Địa. Với những chiếc bánh lớn thường được gói riêng, với những chiếc bánh nhỏ được xếp thành từng tháp với độ cao 9, 10, 12, 15, 20 tầng để phục vụ nhu cầu thờ cúng của người dân.
 
 
Chính vì vậy, vào thời điểm cuối năm làng nghề Kim Long (một làng nghề chuyên sản xuất bánh cộ) lại đỏ lửa với những mẻ bánh. Hiện nay, phường Kim Long có hơn 30 hộ làm bánh in. Vào cuối năm, dân làng lại tất bật làm bánh, hương thơm lan tỏa cả vùng. Không chỉ có Kim Long, ở Huế có rất nhiều chùa cũng làm bánh cộ như chùa Hồng Ân, Diệu Nghiêm, Liên Trì, Hoàng Liên, Tịnh Đức... Có chùa mua đến vài tấn nếp, vài tấn đậu xanh làm đến hàng trăm ngàn cái bánh cộ để cung cấp cho các người tiêu dùng ở Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Bình và đến tận TP.HCM, qua tới Mỹ… lấy tiền trang trải kinh phí nội tự.
 
 
Bánh sau khi sản xuất sẽ được các sư cô xây thành từng những tháp theo mô hình tháp Phước Duyên với kích thước lớn bé khác nhau.  Bánh cộ ở các chùa Huế được bán với giá rất “mềm”: khoảng 20.000đ/cặp đối với tháp bánh nhỏ, tháp cao 12 tầng có giá khoảng 60.000 đồng, tháp cao 15 tầng khoảng 70.000 đồng… Bánh đã được xây thành từng tầng, tháp thì giá thành cao hơn bánh thường vì tốn nhiều công gói, giấy nilon, keo dán… Khi có đại lễ cầu siêu, chẩn tế cô hồn, Phật tử ở nước ngoài thường gọi điện về các chùa Huế đặt “xây tháp” với số lượng lớn, có tháp bánh cao từ 1-1,5m, đường kính đáy rộng từ 0,6-1m và đóng thùng vận chuyển sang rất công phu.
 
 
Có một điều rất lạ về loại bánh này, đó chính là mặc dù có xuất phát từ cung đình, nhưng khi lan truyền trong đời sống dân gian, bánh có sức sống lạ kì. Không quảng cáo, không thay đổi loại giấy gói, không nhãn mác, không cần đăng ký thương hiệu nhưng loại bánh này đã và đang chiếm lĩnh thị trường bằng những cách riêng của mình. Cũng với những loại nguyên liệu đơn sơ, dân dã như vậy nhưng trải qua bao biến thiên của thời cuộc, bánh vẫn tồn tại song hành với thời gian làm hài lòng biết bao khách trong và ngoài nước.
 

Ý kiến của bạn

Nội dung của trường dữ liệu này được giữ kín và sẽ không được hiển thị công khai.