Đạo đàn bà xưa



Đạo đàn bà xưa

Đ.H 0:24 8/3/2014

Trai thì trung hiếu làm đầu, Gái thì tiết hạnh là câu trau mình.

Đó là một trong những câu mở đầu tập truyện thơ dài của Nguyễn Đình Chiểu, ra đời vào giữa thế kỷ 19. Người phụ nữ xưa theo đạo đức Nho giáo, khi còn bé ở nhà thì phải vâng lời cha, lớn lên thành gia thất thì phải theo chồng, nếu chồng chết thì phải nghe theo con, tất nhiên là con trai lớn, đó là cái gọi là đạo tam tòng của người phụ nữ. Cái đức lớn nhất của người đàn bà là phải giữ cho mình trong trắng (tiết) và nết na (hạnh). Dạy dỗ con gái thì lấy công-dung-ngôn-hạnh làm đầu: làm việc chăm chỉ - ăn mặc trang điểm chỉnh tề - lời nói có ý tứ - thái độ cử chỉ đúng mực. Đó là hình mẫu của một người nội trợ trong gia đình, lấy việc hầu hạ chồng và nuôi dạy con làm mục đích chính của đời mình.
 
 
Chính vì vậy mà khi xã hội Việt Nam tiếp xúc với những tư tưởng tự do, bình đẳng của phương Tây vào đầu thế kỷ 20, thì một trong những mục tiêu đầu tiên của cuộc cách mạng xã hội là nhằm đả phá những quan niệm của Nho giáo, giải phóng cho người phụ nữ ra khỏi những trói buộc của tư tưởng trọng nam khinh nữ. Tuy nhiên cuộc giải phóng phụ nữ phải vượt qua nhiều trở ngại lớn hơn là cuộc giải phóng con người nói chung. Lấy một ví dụ, trong khi cuộc vận động thay đổi cách để tóc và trang phục của nam giới đang trở thành một cuộc cách mạng gắn với yêu cầu cải cách xã hội, thì những đòi hỏi thay đổi trang phục của phụ nữ chỉ được nhen nhóm một cách dè dặt ở các thành thị lớn và chỉ được coi là chuyện “gia đình”. Cho đến tận năm 1933 trên báo Phong hóa vẫn còn đăng bài chế diễu các cô gái mới:
 
Gớm cô gái mới, mới làm sao!
Các mốt cô không thiếu mốt nào.
Đầu quấn tóc trần, ngôi rẽ lệch,
Chân lê mang cả gót đầm cao,
Áo mùi quần lụa, quàng san trắng,
Mặt phấn môi son, điểm má đào.
Mím miệng cô cười răng trắng nhởn,
Đưa tình con mắt sắc như dao.
 
Người con gái “con nhà lành” xưa, khi ra đường bao giờ cũng phải có mẹ đi cùng, nếu không thì là chị lớn đã có chồng. Những trói buộc đó dần dần trở thành vô hiệu, khi con gái cũng lần lượt được đến trường đi học như con trai. Và điều không ngờ, là tại nơi có không khí chính trị-xã hội bảo thủ và trói buộc nhất là Huế, nơi còn tồn tại cả một triều đình phong kiến với hệ thống quan lại lạc hậu, lại là nơi ra đời tổ chức đầu tiên của phụ nữ, trước cả Hà Nội và Sài Gòn, là những thành phố lớn đã từng là cái nôi của nhiều cuộc vận động yêu nước và cải cách xã hội. Đến nay thì ai cũng phải thừa nhận rằng Nữ công học hội, một tổ chức mang tên gọi hiền lành, lại là tổ chức đầu tiên của phụ nữ Việt Nam, ra đời trong bối cảnh cuộc vận động yêu nước đòi giảm án cho nhà yêu nước kiệt xuất Phan Bội Châu sau khi bị tòa Đề hình Pháp ở Hà Nội kết án tử hình. Bà Đạm Phương, một người phụ nữ dòng dõi hoàng tộc là người khởi xướng, đã phát biểu trong lễ thành lập Hội tháng 9-1926 rằng:
 
… Cái thói ỷ lại của bọn nữ lưu chúng ta đã gần như một cái bệnh căn thâm niên rồi. Ỷ lại tức là cái nguồn gốc nô lệ đó vậy. Nếu muốn kéo lại nữ quyền thì trước hết phải tìm nhân cách cho nữ giới, muốn tìm nhân cách cho nữ giới thì trước phải tảo trừ cái bệnh ỷ lại đó.
Cái bài thuốc ấy chính là cái mục đích quan trọng thứ nhất của bản Hội. Cái bài thuốc ấy là gây cho quần thoa một cái tinh thần tự lập bằng các nghề nghiệp của mình, trong cái phạm vi đạo đức tri thức Đông phương và Tây phương hòa hợp với nhau đó. Sau hết là kết một cái dây đoàn thể để bênh vực quyền lợi cho nhau.
 
Cuộc vận động giải phóng phụ nữ được thực hiện bằng nhiều hình thức, mà có lẽ gây được nhiều tiếng vang nhất là những phản ánh trên sách báo. Vào những năm 1920-1930, trên các báo chí của Hà Nội đã từng đăng những truyện dài nói về thân phận những người phụ nữ bị trói buộc trong tam tòng tứ đức, đang khát khao đòi được giải thoát khỏi những ràng buộc đó. Những cuốn tiểu thuyết của nhóm Tự lực văn đoàn như Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, là tiếng kêu của những người đàn bà bất hạnh đòi hỏi tự do cá nhân. Nhưng cuộc đấu tranh đó vẫn không vượt qua được những trở ngại của đạo đức Nho giáo, nhân vật trong Đoạn tuyệt cuối cùng vẫn phải kết hôn theo sự sắp đặt của cha mẹ, nhân vật của Lạnh lùng vẫn phải sống cuộc đời thủ tiết của người quả phụ mà không dám chạy theo tình yêu.
 
 
Có lẽ vào thời đó, Đàn bà mới là một trong những tờ báo quyết liệt nhất lên tiếng bảo vệ người phụ nữ trong gia đình. Ngay từ số đầu ra năm 1935 ở Hà Nội, báo đã có mục diễn đàn tự do, sau khi đưa ra trường hợp một người phụ nữ đã có ba con bị chồng bỏ để lấy vợ hai, báo hỏi ý kiến bạn đọc xem có nên giải phóng cho người đàn bà đó không. Trong 14 câu trả lời đến từ khắp ba miền đất nước, 10 ý kiến cho rằng cần giải phóng, 3 ý kiến chống lại, 1 ý kiến không rõ ràng. Hai nữ độc giả còn gợi ý cho nạn nhân kiện người chồng ra tòa, đòi được nuôi con và gửi tiền trợ cấp sau khi ly hôn. Một nữ độc giả còn nói “đời là cuộc đấu tranh” và không còn sự lựa chọn nào khác, chỉ có “chiến thắng hay là chết”. Báo còn tranh luận về chủ đề “Đàn bà góa chồng có quyền tái giá không?”: kết quả trong 24 câu trả lời thì có 16 tán thành, chỉ có 4 chống lại và 4 không rõ ràng.
 
Tuy nhiên, phải đợi đến cuộc cách mạng năm 1945, thì những vấn đề xã hội mới được giải quyết triệt để. Từ nay người phụ nữ Việt Nam mới có quyền đấu tranh trên một tư thế mới để gạt bỏ những trói buộc của đạo lý phong kiến, nhưng vẫn phải bảo tồn những truyền thống tốt đẹp được hình thành trong quá trình sinh tồn của dân tộc. Và đến thế kỷ 21, phụ nữ Việt đang khẳng định vai trò và khả năng của mình trên mọi lĩnh vực từ kinh tế, văn hóa, xã hội cho đến thể thao, mà điều dễ nhận thấy là sự chiến thắng vẻ vang và nhẹ nhàng của các tuyển thủ nữ Việt Nam khi thi đấu quốc tế, chứ không vật vã như “những chàng vàng” của bóng đá nam.
 
 
 

Đ.H

Từ Khóa :