Câu chuyện vỉa hè: New York đã ‘hồi sinh’ như thế nào?


Câu chuyện vỉa hè: New York đã ‘hồi sinh’ như thế nào?

Phạm Trang 15:38 3/4/2017

Singapore từ bóng tối ra ánh sáng bởi những chính sách pháp luật khắc nghiệt không chỉ là một bài học duy nhất. Thành phố New York của Mỹ đã từng bị vùi lấp bởi tệ nạn, ăn mày và trốn vé. Bằng học thuyết “Cửa sổ bị vỡ”, dưới thời tổng thống Bill Clinton thành phố này thực sự đã ngày càng nhân văn hơn.

Lý thuyết “cửa sổ bị vỡ” là gì?

Lý thuyết về cửa sổ vỡ là một học thuyết về hiệu quả thiết lập và báo hiệu của rối loạn đô thị và phá hoại đối với tội phạm và hành vi chống lại xã hội. Theo lý thuyết này, việc duy trì và giám sát các môi trường đô thị để ngăn chặn các tội phạm nhỏ như phá hoại, uống rượu công cộng, và nhảy cầu giúp tạo ra một bầu không khí trật tự và hợp pháp, từ đó ngăn chặn những tội ác nghiêm trọng hơn xảy ra.

Lý thuyết “Cửa sổ bị vỡ” được phổ biến vào năm 1982 bởi 2 nhà khoa học xã hội James Q. Wilson và George L. Kelling. Giống như các chính sách của ông Lý Quang Diệu, ngay từ khi ra đời, lý thuyết này đã gây ra cuộc tranh luận rất lớn trong cả hai ngành khoa học xã hội và không gian công cộng. Lý thuyết này đã được sử dụng như một động lực cho một số cải cách trong chính sách hình sự, bao gồm việc sử dụng rộng rãi, gây tranh cãi của các biện pháp "dừng, hỏi và tìm kiếm" được tiến hành bởi Sở Cảnh sát thành phố New York.

Theo thuyết này,nếu một tòa nhà có một vài cửa sổ bị hỏng, không được sửa chữa, sẽ tạo ra khuynh hướng phá hoại đối với những người đi ngang qua, một số kẻ thậm chí sẽ trèo qua các cửa sổ hỏng để đột nhập vào tòa nhà.Điều này tương tựnhư việc tích lũy rác thải tại các nơi công cộng sẽ tạo ra hiệu ứng khiến nhiều người vô tư xả rác ở đây hơn. Một chiến lược thành công để ngăn chặn phá hoại là giải quyết các vấn đề khi chúng còn nhỏ. Sửa chữa các cửa sổ bị hỏng trong một thời gian ngắn, ví dụ như một ngày hoặc một tuần, và khuynh hướng là những kẻ phá hoại ít có khả năng phá vỡ nhiều cửa sổ hơn hoặc làm hỏng thêm. Làm vệ sinh vỉa hè mỗi ngày, và khuynh hướng để rác không tích tụ (hoặc tỷ lệ rác thải ít hơn nhiều). Các vấn đề nhờ đó ít có khả năng leo thang, vì thếnhững cư dân sẽ không chạy trốn khỏi khu phố.

Quy hoạch vỉa hè sẽ làm giảm các vụ trọng án?

Nhận được sự ủng hộ của tổng thống Bill Clinton, lý thuyết “Cửa sổ bị vỡ” từ trang sách đã được áp dụng triệt để vào thực tế và trở thành một học thuyết “nổi cộm” lúc bấy giờ. Giống như những người Singapore từng không tin tưởng mấy vào chính sách cấm kẹo cao su của Lý Quang Diệu, người dân Việt Nam phản ứng với những hành động “đập bỏ” của các nhà quản lý, học thuyết về cửa sổ bị vỡ khi ra đời từng nhận được rất nhiều chỉ trích đến từ phía quần chúng. Nhiều người cho rằng, chính sách này mạng nặng tính phân biệt chủng tộc, bởi cảnh sát có xu hướng nhằm vào các mục tiêu không phải người da trắng nhiều hơn.

Tuy nhiên, học thuyết đã thể hiện được sức ảnh hưởng quan trọng của nó. New York đã có một cuộc “thay da đổi thịt” ngoạn mục. Chỉ sau một vài năm, tình hình tội phạm ở New York đã tụt giảm nhanh xuống 65%. Theo thống kê,tỷ lệ giết người ở thành phố này giảm từ 26,5 trên 100.000 người vào năm 1993 xuống còn 3,3 trên 100.000 người vào năm 2013 – thấp hơn so với mức trung bình của quốc gia.Trong vòng một năm, tội phạm trên tàu điện ngầm đã giảm 30% so với thời điểm trước đó.

Việc đòi lại vỉa hè đang được thực thi dữ dội tại các thành phố lớn dường như mới chỉ được hiểu ở lớp vỏ trên cùng với mục tiêu xây dựng một thành phố văn minh – nơi vỉa hè thực sự thuộc về người đi bộ. Chính vì thế, nó gây ra những lo lắng và tranh cãi trong quần chúng bởi việc hồ nghi liệu lợi ích của các chiến dịch đem lại có đủ để phá vỡ những vấn đề sát sườn liên quan tới một bộ phận không nhỏ cư dân đang sống bám vào vỉa hè.

Học thuyết “Cửa sổ bị vỡ” cho rằng tội phạm là hệ quả tất yếu của sự mất trật tự, vô tổ chức. Nếu một chiếc cửa sổ bị phá hỏng không được ai sửa chữa sẽ hình thành nên ý thức phạm tội của những người đi ngang qua. Ngay lập tức, họcho rằng sẽ không có ai để ý và chịu trách nhiệm trước hiện trạng này. Giống như những thùng bia bị đổ trên đường phố ở Đồng Nai, nếu những thùng bia được xếp ngay ngắn, người qua đường sẽ không có tâm lý “hôi của”, chính sự nhốn nháo, xô lệch của một vụ tai nạn đã hình thành nên tâm lý “vô chủ” của những người đi qua.

Hiệu ứng đó còn tiếp tục cho đến sau này, khi nhiều cánh cửa sổ khác sẽ bị đập vỡ, dần dà ý thức về sự vô chủ, hỗn loạn sẽ lan rộng, truyền tải đi dấu hiệu về những gì đang diễn ra. Học thuyết cho rằng, những vấn đề tưởng như nhỏ ở thành phố như vẽ bậy lên tường, đi lậu vé, ăn xin… đều có thể sẽ trở thành căn nguyên của những tội ác nghiêm trọng.

Tại Việt Nam, văn hóa vỉa hè là một hành trình tự phát kéo dài cả trăm năm trong lịch sử. Nét văn hóa này thậm chí không bị mai một khi Pháp chiếm đóng và đem đến vô vàn những thứ mới mẻ từ mẫu quốc áp đặt vào xứ thuộc địa. Tuy nhiên, sau một quãng thời gian “vượt rào” bước ra ngoài thế giới tự do hơn, thành phố đã có một thời kỳ tự phát cùng với hệ thống chấp nhận, thỏa hiệp thậm chí kiếm tiền trên sự nhếch nhác, ngổn ngang. Tất cả các hiện tượng xấu xí như “chặt chém” khách du lịch, ngôn từ tục tĩu, coi thường di; lừa đảo, bảo kê   và cướp giật là những triệu chứng cho thấy các căn nguyên nằm sâu hơn phía dưới... Những thứ đó đều có thể là kết quả từ những xô lệch và mất trật tự đến từ các vỉa hè bị “chiếm đóng”  cho lợi ích cá thể. Có lẽ, để đưa ra phác đồ điều trị đúng, việc cố gắng truy tìm các biểu hiện bề ngoài như đập phá tam cấp chỉ mang lại sự ngăn nắp tức thời rồi vài ngày sau, ngay tại chính nơi đó, sinh ra các tam cấp sắt chia chỉa thách thức. Những ô cửa sổ vẫn vỡ cho đến khi chung ta thực sự muốn thay đổi thái độ của những kẻ ném đá.

Xem thêm

Hà Nội vẫn còn đáng sống? 

Một giải pháp nhân văn cho những bậc tam cấp tại Guyane

Ped way – cầu nối nhân văn trong đô thị


Phạm Trang

Từ Khóa :