Bức tranh “hai mặt” của doanh nghiệp thời toàn cầu hóa


Bức tranh “hai mặt” của doanh nghiệp thời toàn cầu hóa

Phạm Trang 11:16 21/4/2017

Sự phát triển của toàn cầu hóa cùng với sự gia tăng như vũ bão các tập đoàn đa quốc gia, các doanh nghiệp lớn nhỏ trên thế giới đã đặt giới tư bản vào rất nhiều cuộc cân đo, tranh cãi giữa lợi nhuận và trách nhiệm doanh nghiệp - hai yếu tố sống còn của các tập đoàn luôn chịu sự giám sát của quần chúng và các tổ chức xã hội từ trong nước đến quốc tế.

Buổi tọa đàm Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp diễn ra tại Trung tâm Văn hóa Pháp L’espace 24 Tràng Tiền, Hoàn Kiếm, Hà Nội đã đem đến những lý giải cụ thể về trách nhiệm của các doanh nghiệp, các tập đoàn lớn trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Trách nhiệm xã hội cũng là một sản phẩm thị trường

Tại buổi tọa đàm, các diễn giả đã cung cấp cho người xem những hiểu biết về khái niệm “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” cùng với hệ thống khung pháp lý quy định về vấn đề trách nhiệm xã hội của các công ty hoạt động xuyên quốc gia, đặc biệt là hệ thống pháp luật của cộng hòa Pháp về trách nhiệm của doanh nghiệp.

Ông Michel Capron - Giáo sư Đại học Paris 8-Saint-Denis, nghiên cứu viên thuộc Trung tâm nghiên cứu kinh tế Saint-Denis (LED) và Viện nghiên cứu quản lý, Đại học Paris-Est - cho biết: khái niệm về “trách nhiệm xã hội” của doanh nghiệp cho đến nay vẫn chưa tìm được sự đồng nhất giữa các quốc gia với nhau, giữa các chủ thể khác nhau và giữa các hiệp hội với các Tổ chức xã hội dân sự khác. Nguyên nhân của những bất đồng là do chưa có một định nghĩa chính thức về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Đây hoàn toàn là một ý tưởng tự thân, phát triển trong khi vẫn chưa được mọi người hiểu theo cùng một hướng. Chính vì thế đã tạo ra một khái niệm đa dạng và những cuộc tranh luận sôi nổi với mục đích cuối cùng là đi tìm một quan điểm đúng đắn nhất về cái gọi là “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp”.

Trong 20 năm trở lại đây, các quốc gia đã tạo ra hình thức điều chỉnh và phương thức ứng xử mới, được quy định trong rất nhiều văn bản quốc tế được đưa ra. Các điều chỉnh mang tính đa chiều hơn, không chỉ quy định các vấn đề kinh tế (tức người lao động và người sử dụng lao động), mà còn là những ràng buộc của doanh nghiệp với các vấn đề xã hội, môi trường mang tính quốc tế.

Đây cũng là một khái niệm luôn luôn tiến triển, phụ thuộc vào bối cảnh, thời gian, không gian khác nhau. Xu hướng chung được hình thành dưới sự hình thành của các thỏa thuận quốc tế. Tuy nhiên, có một định nghĩa chung về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Theo đó, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp chính là việc doanh nghiệp xem xét ảnh hưởng và tác động của hoạt động kinh tiến đến hoạt động môi trường và thiên nhiên, với mục đích giảm thiểu các tác động ngoại vi tiêu cực cộng với đóng góp của doanh nghiệp trong phúc lợi xã hội. Doanh nghiệp ngoài việc báo cáo yếu tố liên quan đến tài chính, còn phải báo cáo những vấn đề ngoài tài chính. Khái niệm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã bắt đầu xuất hiện từ những năm 50 tại Mỹ, phát triển dài trong những thập kỷ 70 - 90 tại Châu Âu và hiện tại đã lan rộng ra khắp thế giới.

Vấn đề về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp xuất phát từ sự nâng cao nhận thức của các tổ chức xã hội dân sự. Họ đã nhìn thấy các rủi ro tiềm tàng không thể đảo ngược với hành tinh. Chính vì thế đã dẫn tới việc hạ thấp ngưỡng chấp nhận rủi ro của toàn cầu hóa, bắt đầu lây lan từ nước này sang nước khác, châu lục này sang châu lục khác. Khi doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn, khủng hoảng về tính chính danh, dư luận trở nên dè chừng với các doanh nghiệp lớn và các công ty xuyên quốc gia, các doanh nghiệp và các tập đoàn lớn bấy giờ cũng tìm đến trách nhiệm xã hội với mong muốn gây dựng lòng tin với các tổ chức xã hội dân sự. Sự giảm bớt vai trò của nhà nước cũng tạo ra những yêu cầu lớn hơn với doanh nghiệp. Trong đó, phát triển các ý tưởng bao gồm: tôn trọng quyền con người, giải quyết các vấn đề xã hội trong thương mại quốc tế, hài hòa hóa vấn đề xã hội và thương mại; xây dựng chuẩn mực đạo đức trong kinh doanh đi cùng với khái niệm “phát triển bền vững”.

Diện mạo nhân văn cho thương mại toàn cầu

Theo ông Michel Capron, sử dụng khái niệm “Trách nhiệm giải trình” chính xác hơn khái niệm “trách nhiệm”. Theo đó, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm (bên nợ) đối với xã hội bởi chính các quy tắc thể chế là yếu tố cho phép doanh nghiệp tồn tại và rằng doanh nghiệp cần khai thác các nguồn lực thuộc di sản chung của nhân loại để phục vụ mục đích kinh doanh của mình. Doanh nghiệp trả nợ bằng cách báo cáo về các hành vi của mình (minh bạch) và qua việc chịu trách nhiệm về các hành động và hậu quả do các hoạt động của mình gây ra.

Doanh nghiệp có nhiệm vụ bảo đảm phúc lợi của công nhân, gia đình và cộng đồng, đồng thời có những biện phát và hoạt động xã hội tự nguyện, “ngoài phạm vi kinh doanh” nhằm bảo trợ, phục vụ cho các hoạt động thiện nguyện, hoạt động từ thiện. Trách nhiệm doanh nghiệp cũng thể hiện ở các hoạt động khắc phục sửa chữa những thiệt hại do hoạt động kinh tế gây ra. Vào những năm 50 tại Mỹ, người ta đã bắt đầu “giảng đạo đức” cho các doanh nghiệp làm giàu bằng chiến tranh, thay thế cho sự phát triển của hệ thống bảo trợ xã hội theo cơ chế “Nhà nước phúc lợi”. Các hành động thể hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được xây dựng trên nền tảng đạo đức vẫn đang chi phối tại Hoa Kỳ và các nước đang phát triển cho đến tận ngày nay.

Chiến lược mang tính thực dụng của các doanh nghiệp, các tập đoàn cũng chính là nguyên nhân khiến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được nâng cao và phát huy hiệu quả. Theo đó, hành vi xã hội của doanh nghiệp phải phục vụ cho hiệu năng kinh tế của chính doanh nghiệp. Các yếu tố sinh lời và khả năng cạnh tranh được đáp ứng tốt nhất khi doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội, công ty đáp ứng một nhu cầu xã hội bằng sẵn sàng hành động. Doanh nghiệp có mục tiêu là đáp ứng sự mong đợi của các bên liên quan thông qua xác định và đối thoại với các đối tượng này.

Bà Pauline Guillaume - phụ trách chương trình hợp tác pháp lý, tại Bộ phận hợp tác Tư pháp-Luật-Quản trị, Đại sứ quán Pháp, luật sư tập sự tại Trường đào tạo luật sư, Tòa Phúc thẩm Paris - lấy ví dụ về khung pháp lý quy định về vấn đề trách nhiệm xã hội của các công ty hoạt động xuyên quốc gia, các quy định quốc tế hiện hành và quy định của pháp luật CH Pháp về nghĩa vụ giám sát của các công ty mẹ và các công ty tài trợ. Theo bà, đối với các hành vi xâm phạm quyền cơ bản của người lao động, doanh nghiệp có thể đối mặt với việc phải chịu trách nhiệm dân sự hoặc trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, vấn đề xử lý đối với các cơ quan và chi nhánh thành viên nằm ở nước ngoài, nơi không có hệ thống luật đầy đủ để xử lý các sai phạm của doanh nghiệp lại trở thành vấn đề khó khăn, gây tranh cãi rất nhiều tại Quốc hội Pháp. Các vấn đề về tính độc lập, sự minh bạch của cơ quan tòa án nước sở tại có thể gây khó khăn cho việc khởi kiện chi nhánh của một tập đoàn xuyên quốc gia, hay trường hợp chi nhánh không đủ điều kiện để chi trả cho chi phí môi trường đắt đỏ cũng là những vấn đề còn chưa tìm được biện pháp giải quyết ổn thỏa. Vậy công ty mẹ có chịu trách nhiệm về các công ty con của mình hay không? Tại Pháp, rất khó để đưa một công ty đa quốc gia của nước này ra tòa án. Bởi họ chịu sự điều chỉnh của hệ thống luật tại Pháp, trong khi các công ty con lại chịu trách nhiệm trước pháp luật của nước sở tại. Chính vì nó tập hợp rất nhiều tư cách pháp nhân từ các công ty con nên nó gần như không còn tư cách pháp nhân tại Pháp nữa.

Tuy nhiên, hệ thống “luật mềm” ngày càng được ứng dụng phổ biến, rộng rãi đối với các tập đoàn đa quốc gia này. Hệ thống luật mềm được hình thành từ những trào lưu mới của Toàn cầu hóa, chú trọng nâng cao tinh thần trách nhiệm của các công ty đa quốc gia thông qua ý thức xây dựng cộng đồng và bảo vê quyền lợi của người lao động. Bộ luật mới ra đời tại Pháp cũng quy định về nghĩa vụ rà soát của công ty mẹ đối với các công ty con. Kế hoạch rà soát bao gồm xác định những rủi ro, ngăn chặn những tác động xấu đến nhân quyền, sức khỏe, quyền tự do của con người đối với các công ty chịu sự quản lý của công ty mẹ. Dù vậy, Quốc hội Pháp đã không thông qua khoản phạt 10 triệu Euro sau các chất vấn của những người không đồng quan điểm với hội đồng bảo hiến. 


Phạm Trang

Từ Khóa :